ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG NHẬT CHO SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRƯỜNG ĐẠI HỌC FPT THEO TIẾP CẬN KIẾN TẠO XÃ HỘI

ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG NHẬT CHO SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRƯỜNG ĐẠI HỌC FPT THEO TIẾP CẬN KIẾN TẠO XÃ HỘI

Lại Xuân Thu thulx@fe.edu.vn Trường Đại học FPT Khu Giáo dục và Đào tạo - Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Km29 Đại lộ Thăng Long, xã Hòa Lạc, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Đổi mới kiểm tra, đánh giá việc dạy học ngoại ngữ trong đó có tiếng Nhật theo tiếp cận kiến tạo xã hội là cần thiết đối với các trường đại học tư thục, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Theo lí thuyết này, tri thức được xây dựng thông qua sự tương tác xã hội và hợp tác giữa người học, đòi hỏi cách thức đánh giá phải phản ánh quá trình học tập, đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá. Thông qua việc lấy ý kiến khảo sát của 15 giảng viên và 100 sinh viên, bài viết làm rõ thực trạng kiểm tra, đánh giá việc học tập tiếng Nhật của sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin tại Trường Đại học FPT. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng lí thuyết kiến tạo xã hội trong hoạt động kiểm tra, đánh giá. Nghiên cứu cho thấy, giảng viên và sinh viên có một thái độ sẵn sàng và tích cực đối với kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận kiến tạo xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn và tồn tại khi áp dụng lí thuyết này vào thực tế, nổi bật như nhận thức sinh viên chưa đầy đủ, năng lực một số giảng viên và hỗ trợ của nhà trường chưa đáp ứng. Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra ba khâu trọng tâm của đổi mới kiểm tra, đánh giá là mục tiêu, tiêu chí và hình thức.
Từ khóa: 
kiến tạo xã hội
đổi mới
tiếng Nhật
kiểm tra
đánh giá.
Tham khảo: 

[1] Ban Chấp hành Trung ương. (2025). Nghị quyết số 71 NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[2] Swain, M. (2000). The output hypothesis and beyond: Mediating acquisition through collaborative dialogue. In J. P. Lantolf (Ed.), Sociocultural theory and second language learning, pp.97–114. Oxford University Press.

[3] Âu Đức Thắng, Hoàng Thanh Chung. (2017). Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy - học bậc đại học ở Học viện Hậu Cần. Tạp chí Khoa học và Giáo dục, 136, tr.105-108.

[4] Gipps, C. (1999). Socio-cultural aspects of assessment. Review of Research in Education, 24(1), pp.355-392.

[5] Khalid, A., Kazim, T., Diaz, K. R. V. & Iqbal, J. (2023). Breaking barriers in higher education: Implementation of cost-effective social constructivism in engineering education. Science for the People, 30(3), pp.1-15.

[6] McArthur, J. (2023). Rethinking authentic assessment: Work, well-being, and society. Higher Education, 86(4), pp.735-749.

[7] Nguyễn Hồng Giang (2023). Lí thuyết kiến tạo trong dạy học. Tạp chí Thiết bị giáo dục, 2 (283), tr.28-30.

[8] Nguyễn Hữu Châu (2012). Quan điểm kiến tạo trong dạy học, Tạp chí Tâm lí học, 6 (137), tr.18-25.

[9] Piaget, J. (1975). The equilibration of cognitive structures: The central problem of intellectual development. University of Chicago Press.

[10] Revati, N. (2024). Integrating constructivism, science education, and technology. International Journal for Research in Applied Science and Engineering Technology (IJRASET), 12(5), pp.2707-2712.

[11] Vygotsky, L. S. (1978). Mind in Society: The Development of Higher Psychological Processes (M. Cole, V. John-Steiner, S. Scribner & E. Souberman, Eds.). Harvard University Press.

Bài viết cùng số