ĐỐI MỚI KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MẦM NON VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

ĐỐI MỚI KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MẦM NON VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Nguyễn Đức Sơn sonnd@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Dương Giáng Thiên Hương* huongdgt@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Trần Thị Bích Ngọc ngocttb@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Đào Thị Minh Châu chaunm@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nguyễn Vinh Quang quangnv@hnue.edu.vn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 136 Xuân Thuỷ, phường Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Hoàng Thị Kim Huệ huehtk@naem.edu.vn Học viện Quản lí Giáo dục 31 Phan Đình Giót, phường Phương Liệt, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Kiểm định chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông là một trong những công cụ quan trọng nhằm kiểm soát chất lượng, đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, từ đó thúc đẩy cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục. Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục tại Việt Nam thông qua phân tích khung pháp lí hiện hành và thu thập ý kiến từ 807 cán bộ quản lí giáo dục ở các cấp học khác nhau. Kết quả cho thấy, mặc dù hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đã có những bước tiến đáng kể vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết, bao gồm tính độc lập của hoạt động kiểm định, chất lượng đội ngũ thực hiện, sự phù hợp của các tiêu chuẩn với điều kiện thực tế và cơ chế hỗ trợ sau kiểm định. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp đổi mới về chính sách, cơ cấu tổ chức và nội dung tiêu chuẩn nhằm xây dựng một hệ thống kiểm định hiệu quả, phù hợp với bối cảnh Việt Nam và xu hướng quốc tế.
Từ khóa: 
kiểm định chất lượng giáo dục
giáo dục mầm non
giáo dục phổ thông
chính sách giáo dục.
Tham khảo: 

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018a). Thông tư 18/2018/TT BGDĐT Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở và trung học phổ thông.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018b). Thông tư 17/2018/TT BGDĐT Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học.

[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018c). Thông tư 19/2018/TT BGDĐT Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non.

[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018d). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể.

[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2024). Thông tư 22/2024/TT BGDĐT Sửa đổi Thông tư 17/2018/TT-BGDĐT và Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT, Thông tư 19/2018/ TT-BGDĐT

[7] Desveaux L, Mitchell JI, Shaw J, Ivers NM. Understanding the impact of accreditation on quality in healthcare: A grounded theory approach. Int J Qual Health Care. 2017 Nov 1;29(7), pp.941-947. https://doi.org/10.1093/intqhc/mzx 136. PMID: 29045664

[8] Elgart, M. (2017). Meeting the promise of continuous improvement [White paper]. Cognia. https:// www.cognia.org/insights/meeting-the-promise of-continuous-improvement/

[9] Ibrahim HAH. (2014). Quality assurance and accreditation in education. Open Journal of Education, vol. 2, no. 2, pp.106–110

[10] Lê Đức Ngọc, (2008), Xây dựng văn hóa chất lượng: Tạo nội lực cho cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại chất lượng, Trung tâm Kiểm định Đo lường và Đánh giá chất lượng giáo dục (CAMEEQ), Hà Nội.

[11] Nguyễn Minh Đường & Hoàng Thị Minh Phương. (2014). Quản lí chất lượng đào tạo và chất lượng nhà trường theo mô hình hiện đại. NXB Giáo dục Việt Nam.

[12] Norcini, J. J. & van Zanten, M. (2010). An overview of accreditation, certification, and licensure processes. In P. Peterson, E. Baker, & B. McGaw (Eds.), International Encyclopedia of Education (Vol. 3, pp.1–6). Elsevier.

[13] Phạm Xuân Thanh. (2011). Hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: Thực tiễn ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Báo cáo hội thảo - tập huấn Chỉ số thực hiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và tăng cường năng lực cho hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường, Cần Thơ.

[14] Phan Trọng Nam & Tăng Thị Hưởng. (2024). Biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm đỉnh chất lượng giáo dục của các trường mầm non huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Đồng Tháp, 13(04S), tr.278-294. https://doi.org/10.52714/dthu.13.04S.2024.1466

[15] OECD. (2018). PISA 2018 Assessment and Analytical Framework.

[16] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2019). Luật Giáo dục 2019.

[17] Roberts, N. & Abreu, L. (2018). School inspections in England: Ofsted (Briefing Paper No. 07091). House of Commons.

[18] UNESCO. (2017). Global Education Monitoring Report 2017/8: Accountability in Education.

Bài viết cùng số