PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN TIẾNG ANH TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HƯỚNG VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN TIẾNG ANH TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HƯỚNG VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM

Vũ Văn Chính chinhvv@fe.edu.vn Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Km29, Đại lộ Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Trong bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục đại học, phát triển năng lực số cho giảng viên, trong đó có đội ngũ giảng viên tiếng Anh trở thành yêu cầu chiến lược. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn từ các khung tham chiếu quốc tế như DigCompEdu, TPACK và Khung Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông cho giáo viên, đồng thời phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Singapore, Hàn Quốc, Châu Âu và Mĩ. Nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế để đề xuất giải pháp khả thi cho quản lí phát triển năng lực số giảng viên tiếng Anh, góp phần thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia. Kết quả cho thấy, cần quản lí theo mô hình đa tầng: cấp chính sách thiết lập chuẩn và hành lang pháp lí, cấp trường gắn năng lực số với phát triển nghề nghiệp, cấp khoa/bộ môn xây dựng cộng đồng học tập và hỗ trợ trực tiếp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất xây dựng khung năng lực số riêng cho giảng viên tiếng Anh, gắn bồi dưỡng với thăng tiến, lồng ghép bản sắc văn hóa và tăng cường đầu tư hạ tầng.
Từ khóa: 
Năng lực số giảng viên
giảng viên tiếng Anh
giáo dục đại học
DigCompEdu - TPACK – ICT - CFT
chuyển đổi số.
Tham khảo: 

[1] Bautista, A., Wong, J. & Gopinathan, S. (2015). Teacher professional development in Singapore: Depicting the landscape. Psychology, Society & Education, 7(3), 311–326.

[2] Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đảng Cộng sản Việt Nam.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2024). Những con số về kết quả thực hiện chuyển đổi số và Đề án 06 của ngành Giáo dục.

[4] Choi, H., Chung, S.-Y. & Ko, J. (2021). Rethinking teacher education policy in ICT: Lessons from emergency remote teaching during the COVID-19 pandemic period in Korea. Sustainability, 13(10), Article 5480. https://doi.org/10.3390/su13105480

[5] Darling-Hammond, L., Hyler, M. E. & Gardner, M. (2017). Effective teacher professional development. Learning Policy Institute.

[6] Đinh, T. M. H. & Trần, V. H. (2021). Trí tuệ nhân tạo trong giáo dục: Cơ hội và thách thức đến tương lai của việc dạy và học ở trường đại học. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 19(2), 38–42. https://jst-ud.vn/jst-ud/article/view/3613

[7] Esteve-Mon, F. M., Llopis, M. & Adell-Segura, J. (2020). Digital competence and computational thinking of student teachers. International Journal of Emerging Technologies in Learning, 15(2), 29–41. https://doi. org/10.3991/ijet.v15i02.11588

[8] Hampel, R. & Stickler, U. (2015). Developing online language teaching: Research-based pedagogies and reflective practices. Palgrave Macmillan.

[9] Lei, H. & Jiang, Z. (2025). Assessing the digital competence and its influencing factors among foreign language teachers in Chinese universities. Humanities and Social Sciences Communications, 12(1), Article 966. https://doi.org/10.1057/s41599 025-05394-7

[10] Mishra, P. & Koehler, M. J. (2006). Technological pedagogical content knowledge: A framework for teacher knowledge. Teachers College Record, 108(6), 1017–1054. https://doi.org/10.1111/j.1467 9620.2006.00684.x

[11] Phạm, T. T. (2024). Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học hiện nay. Tạp chí Quản lí Nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/03/26/phat trien-doi-ngu-giang-vien-cac-truong-dai-hoc hien-nay/

[12] Redecker, C. (2017). European framework for the digital competence of educators: DigCompEdu. Publications Office of the European Union. https://doi. org/10.2760/159770

[13] Thủ tướng Chính phủ. (2017). Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2017 về việc Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

[14] Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chính phủ Việt Nam.

[15] Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong GD&ĐT giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến 2030”.

[16] UNESCO. (2019). ICT competency framework for teachers (Version 3). UNESCO Publishing. https://unesdoc. unesco.org/ark:/48223/pf0000371024

Bài viết cùng số