Danh sách bài viết

Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,430
Thiết bị dạy học có vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học. Thiết bị dạy học vừa là phương tiện phục vụ bài giảng, vừa như một thành tố góp phần giúp giáo viên và học sinh đạt đến mục tiêu dạy học một cách nhanh chóng và hiệu quả. Việc trang bị thiết bị dạy học đầy đủ, nhanh chóng, hiện đại là xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại là một phần quan trọng trong quá trình đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã được triển khai ở lớp 10 từ năm học 2022 - 2023. Trong bài viết này, nhóm tác giả nêu lên những vấn đề còn tồn tại trong quá trình trang bị và sử dụng thiết bị dạy học lớp 10 để từ đó định hướng đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị về trang bị và sử dụng thiết bị dạy học lớp 10 góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp Trung học phổ thông trong những năm tiếp theo.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,827
Tự chủ là thuộc tính gắn liền với sự ra đời và phát triển của các trường đại học trên thế giới. Tại Việt Nam, tự chủ đại học là một trong chín nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo đặt ra cần giải quyết từ năm 2016 với mục đích cao nhất nhằm “Nâng cao chất lượng liên quan đến quyền tự chủ cho các cơ sở và thực hiện quản lí nhà nước theo phương thức mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học từ các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền tự chủ”. Tuy nhiên, không nhiều nghiên cứu được công bố quốc tế về vấn đề tự chủ đại học ở Việt Nam. Nghiên cứu này tìm kiếm những công bố quốc tế và trong nước về vấn đề tự chủ đại học ở Việt Nam. Nghiên cứu tiến hành tìm kiếm trên các hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến và rà soát thủ công từ các danh mục tài liệu tham khảo với các tiêu chí lựa chọn. Có 113 nghiên cứu được tìm thấy, sau khi loại bỏ các nghiên cứu không phù hợp, 45 nghiên cứu được sử dụng để phân tích và đánh giá. Tuy nhiên, con số này có thể thấp hơn so với thực tế. Nghiên cứu cung cấp các bằng chứng cho thấy cần thiết phải có những nghiên cứu sâu và toàn diện hơn về quản trị đại học và vai trò của quản lí nhà nước trong bối cảnh tự chủ đại học ở Việt Nam.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 5,818
Từ nhiều năm nay, bạo lực học đường vẫn là một trong những vấn nạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động học tập, sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh trong môi trường học đường, mặc dù đây được coi là môi trường giáo dục chuẩn mực nhất. Bài viết tổng hợp một số mô hình phòng chống bạo lực học đường ở Việt Nam và trên thế giới, trong đó có điểm lại thực trạng bạo lực học đường hiện nay. Từ đó đưa ra bức tranh toàn cảnh về thực trạng bạo lực học đường và những mô hình phòng chống bạo lực học đường phổ biến ở một số quốc gia và ở Việt Nam gần đây. Qua đó, bài viết rút ra kết luận về đặc điểm chung của các mô hình hiện nay để làm cơ sở định hướng phát triển, xây dựng các mô hình hiệu quả, phù hợp với bối cảnh mới.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,318
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nhu cầu về việc đào tạo giáo viên tiểu học phải cung cấp không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ và những kĩ năng liên quan đến nghề nghiệp sau này. Mô hình lớp học đảo ngược (FCM) là một phương pháp giảng dạy trong đó vai trò của giảng viên và sinh viên được đảo ngược so với truyền thống. Mô hình FCM này là một giải pháp đáng xem xét trong việc đáp ứng nhu cầu đào tạo. Bằng việc đưa ra những lợi ích, khó khăn và thách thức của mô hình đến thực trạng việc sử dụng mô hình FCM trong đào tạo giáo viên tiểu học ở một số trường đại học sư phạm. Bài viết đề xuất một số giải pháp sử dụng mô hình FCM vào đào tạo giáo viên tiểu học nhằm giúp cho giảng viên đổi mới phương pháp dạy học so với việc dạy học truyền thống. Bài viết cũng khẳng định rằng, các lợi ích và tiềm năng của mô hình FCM trong đào tạo giáo viên tiểu học nên được xem xét và đưa vào sử dụng.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,632
Các chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên ra đời và bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào cuối những năm 1950. Từ đó đến nay, số lượng các chương trình hỗ trợ tài chính không ngừng tăng lên, còn chất lượng các chương trình hỗ trợ tài chính cũng không ngừng được nâng cao. Tại Việt Nam, các chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên do Nhà nước quản lí hoặc cấp ngân sách (Chương trình hỗ trợ tài chính công lập) đã và đang thể hiện ngày càng rõ vai trò quan trọng trong việc mở rộng phạm vi và đảm bảo công bằng trong tiếp cận của giáo dục đại học. Trong bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam đã và đang thực hiện tự chủ mạnh mẽ, bao gồm tự chủ tài chính, việc nghiên cứu về các giải pháp hỗ trợ tài chính cho sinh viên lại càng trở nên thiết thực và phù hợp. Nghiên cứu này tập trung làm rõ nội hàm “Chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên” và “Quản lí các chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên” thông qua tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm trả lời cho câu hỏi: Bản chất của chương trình hỗ trợ tài chính (công lập) cho sinh viên là gì? Quản lí các chương trình hỗ trợ tài chính (công lập) cho sinh viên gồm cụ thể các hoạt động quản lí với các đối tượng quản lí là gì? Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng khung lí luận về Quản lí các chương trình hỗ trợ tài chính (công lập) cho sinh viên tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,530
Quốc tế hóa và khu vực hóa là xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới hiện nay. Việt Nam và Trung Quốc có vị trí địa lí gần gũi, quan hệ thương mại khăng khít, văn hóa - giáo dục tương đồng. Những yếu tố này là lợi thế để hai quốc gia tiến hành hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc thực thi “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI). Để thúc đẩy hợp tác toàn diện về giáo dục đại học trong bối cảnh mới, hai quốc gia cần nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hợp tác trên cơ sở đánh giá thực trạng hợp tác trước đây. Bài viết mô tả chính sách giáo dục của Trung Quốc trong khuôn khổ BRI, thực trạng hợp tác giáo dục đại học Việt - Trung trước khi Việt Nam tham gia vào BRI, từ đó đề xuất một số kiến nghị về hợp tác giáo dục đại học của hai quốc gia trong tương lai.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,974
Hiện nay, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã được thực hiện với mục đích nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh. Ngoài ra, Chương trình 2018 cũng yêu cầu việc đổi mới các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất. Đặc biệt, phát triển kĩ năng đọc vô cùng quan trọng và cấp thiết hiện nay để phát triển năng lực cảm thụ văn học. Với học sinh trung học phổ thông, chiến thuật hay kĩ năng đọc văn bản chưa đa dạng và khó tiếp cận, khó hiểu sâu về văn bản. Kĩ thuật đọc hiểu SQ3R là một chiến thuật đọc nổi tiếng giúp học sinh một số thao tác cụ thể và hữu ích cho từng giai đoạn đọc. Chính vì vậy, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích kĩ thuật và vận dụng vào dạy học đọc hiểu văn bản nhằm phát triển đa dạng kĩ năng mà Chương trình 2018 yêu cầu. Kĩ thuật SQ3R là gì? Tiến hành như thế nào? Trong bài khoa học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chi tiết để giải quyết hai vấn đề trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giờ đọc hiểu có sử dụng kĩ thuật SQ3R đều được học sinh đánh giá cao vì giúp các em cải thiện kĩ năng đọc và đọc sâu văn bản. Ngoài ra, khi sử dụng kĩ thuật, các em thấy được việc đọc văn bản là một thao tác vô cùng quan trọng trong quá trình trải nghiệm cùng văn bản.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,013
Quản trị nguồn nhân lực nói chung và quản trị nguồn nhân lực ở trường đại học nói riêng đã có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước quan tâm với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề quản trị nguồn nhân lực, phân tích các tiếp cận khác nhau, bài viết lựa chọn một cách tiếp cận cho quản trị nguồn nhân lực ở trường đại học công lập. Từ việc khái quát nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực nói chung và quản trị nguồn nhân lực trong môi trường tự chủ ở các trường đại học nói riêng, bài viết gợi mở một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết khi nghiên cứu về quản trị nguồn nhân lực trong môi trường tự chủ đại học.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,103
Bài viết phân tích nhận định của 316 đối tượng khảo sát đến từ các trường đại học, học viện và viện nghiên cứu trên 24 tỉnh/thành phố thông qua phiếu trưng cầu ý kiến được thiết kế dưới dạng google form về việc đưa ra các nhận định về mức độ ảnh hưởng của 16 yếu tố đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kết quả phân tích cho thấy, mẫu khảo sát đa dạng, mang tính đại diện cho các quan điểm đến từ các cơ quan, vị trí công tác khác nhau trong lĩnh vực giáo dục trên khắp cả nước. Thông qua khảo sát cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam là: 1/ Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam; 2/ Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; 3/ Cách mạng công nghiệp 4.0; 4/ Xu thế phát triển giáo dục đào tạo trên thế giới; 5/ Nguồn nhân lực phục vụ nghiên cứu khoa học giáo dục. Các yếu tố ảnh hưởng thấp nhất đến sự phát triển của khoa học giáo dục Việt Nam là: 1/ Quan hệ, hợp tác nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức quốc tế; 2/ Trào lưu các nghề trong xã hội; 3/ Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học giáo dục.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,754
Học tập trải nghiệm giúp người học từ kinh nghiệm bản thân kết hợp những kiến thức thu nhận được ở trường học hình thành nên những giá trị sống của mỗi cá nhân. Học phần Giáo dục đạo đức ở tiểu học trong chương trình đào tạo giáo viên với nội dung giảng dạy về giá trị sống, kĩ năng sống, giáo dục đạo đức giúp sinh viên ngành Giáo dục tiểu học có kiến thức trong giảng dạy các nội dung này ở tiểu học. Vận dụng phương pháp học tập trải nghiệm trong giảng dạy, học phần được đánh giá thông qua sự tiến bộ về năng lực học tập, các kết quả làm việc cá nhân, làm việc nhóm, kĩ năng thiết kế và tổ chức dạy học các nội dung thực hành của sinh viên. Bài viết dựa trên cơ sở những nghiên cứu lí thuyết học tập trải nghiệm để đề xuất quy trình học tập trải nghiệm nhằm giúp giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục tiểu học Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội đạt hiệu quả tối ưu.