Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 7
Trong bối cảnh Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, nghiên cứu thiết kế chủ đề STEM “Ngôi nhà thông minh” trong dạy học Tin học lớp 10 theo quy trình thiết kế kĩ thuật, tích hợp công nghệ Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh. Thực nghiệm sư phạm được triển khai trên 44 học sinh lớp 10 tại Trường Trung học phổ thông Thực hành Sư phạm. Sự phát triển của năng lực được đánh giá thông qua phiếu khảo sát theo thang đo Likert 5 mức độ (với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha > 0.89) trước và sau thực nghiệm. Kết quả cho thấy, mức độ trung bình của 6 thành tố thuộc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đều tăng từ mức 2.68 - 2.93 (trước thực nghiệm) lên mức 3.48 - 3.73 (sau thực nghiệm). Phân tích Paired T-Test cho thấy sự cải thiện này có ý nghĩa thống kê (p < 0.001). Kết quả nghiên cứu khẳng định việc tổ chức dạy học STEM theo quy trình thiết kế kĩ thuật thúc đẩy sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh Tin học lớp 10.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 8
Nghiên cứu xây dựng khung chính sách thúc đẩy hành vi đổi mới sáng tạo của giảng viên trong đại học công lập Việt Nam, qua đó kết nối nghiên cứu đổi mới ở cấp cá nhân, tổ chức với thiết kế chính sách cấp hệ thống. Nghiên cứu phân tích định tính 16 tài liệu chính thức của Phần Lan, Hà Lan, Singapore và Canada. Bốn trường hợp được chọn theo logic hệ thống khác biệt nhất, phản ánh sự đa dạng về điều phối, tự chủ, ghi nhận học thuật và hỗ trợ nghiên cứu. Đơn vị phân tích là công cụ chính sách và tín hiệu triển khai. Dữ liệu được mã hóa theo mô hình năng lực - động lực - cơ hội hành động, mô hình yêu cầu - nguồn lực công việc và lí thuyết trao đổi xã hội. Phân tích gợi ý ba cấu hình: Tự chủ chỉ tạo điều kiện khi đi kèm nguồn lực có thể phân bổ; đánh giá đa chiều mở rộng không gian hợp pháp cho đổi mới học thuật và quản trị công bằng, có thể dự đoán làm tăng mức sẵn sàng chấp nhận rủi ro nghề nghiệp. Bài viết đề xuất khung ba tầng cho Việt Nam ở cấp hệ thống, cơ sở giáo dục đại học và khoa, bộ môn. Kết quả mang tính diễn giải cơ chế, không phải bằng chứng nhân quả, phục vụ thích ứng chính sách.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 6
Phát triển năng lực tư vấn tâm lí cho sinh viên sư phạm là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh học sinh phổ thông ngày càng đối mặt với nhiều khó khăn về sức khỏe tinh thần. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng phát triển năng lực tư vấn tâm lí cho sinh viên sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm tại một số cơ sở đào tạo giáo viên ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát và phân tích sản phẩm học tập. Khảo sát được tiến hành với 923 sinh viên sư phạm, 267 giảng viên/cán bộ quản lí và 158 giáo viên phổ thông tại ba cơ sở đào tạo giáo viên ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy, các lực lượng khảo sát đều nhận thức được vai trò quan trọng của năng lực tư vấn tâm lí trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên. Nội dung phát triển năng lực này đã được tích hợp bước đầu trong chương trình đào tạo, song quá trình đào tạo vẫn thiên về lí thuyết, trong khi hoạt động thực hành và trải nghiệm nghề nghiệp còn hạn chế, thiếu tính hệ thống.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 9
Rối loạn phổ tự kỉ là một dạng khuyết tật phát triển ngày càng phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam. Khiếm khuyết về giao tiếp là một trong những đặc điểm cốt lõi của rối loạn phổ tự kỉ, ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tương tác xã hội, học tập và tham gia các hoạt động hằng ngày của trẻ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, kết hợp quan sát trực tiếp, phỏng vấn người chăm sóc và đánh giá bằng công cụ Communication Matrix nhằm mô tả đặc điểm kĩ năng giao tiếp của một trẻ 5 tuổi rối loạn phổ tự kỉ, bao gồm mức độ phát triển giao tiếp, các chức năng giao tiếp và các hình thức giao tiếp mà trẻ đang sử dụng. Kết quả cho thấy, trẻ chủ yếu giao tiếp ở mức tiền biểu tượng, đã hình thành các hành vi giao tiếp có chủ đích nhằm từ chối, yêu cầu và thu hút sự chú ý nhưng còn hạn chế trong việc sử dụng biểu tượng và ngôn ngữ nói để thực hiện các chức năng giao tiếp xã hội và trao đổi thông tin. Trên cơ sở kết quả đánh giá, nghiên cứu đề xuất quy trình ứng dụng mô hình AAC-PVSM theo hướng cá nhân hóa. Cách tiếp cận này góp phần minh họa quy trình đánh giá, lập kế hoạch và can thiệp dựa trên bằng chứng nhằm hỗ trợ phát triển giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 7
Phát triển năng lực sáng tạo là yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đặc biệt đối với học sinh trường trung học phổ thông chuyên, những người học thường giải quyết nhiệm vụ mới, phức hợp và có độ mở cao. Trong dạy học Vật lí, năng lực này thể hiện không chỉ ở suy luận logic, toán học mà còn ở khả năng đề xuất, thiết kế, thực hiện và đánh giá phương án thí nghiệm. Tuy nhiên, học sinh chuyên Vật lí có thể gặp khó khăn khi chuyển lời giải lí thuyết sang điều kiện thực nghiệm không lí tưởng. Nghiên cứu nhằm làm rõ cấu trúc năng lực sáng tạo trong giải quyết bài tập thí nghiệm Vật lí và xây dựng bảng tiêu chí đánh giá. Các phương pháp gồm phân tích lí luận, rà soát tài liệu có chủ đích, tham vấn chuyên gia và thử nghiệm sơ bộ. Kết quả đề xuất bốn thành tố: Đề xuất ý tưởng và thiết kế phương án; Linh hoạt trong thao tác và chế tạo thiết bị; Tối ưu hóa dữ liệu và xử lí sai số; Đánh giá và phản biện phương án. Bảng tiêu chí gồm tám chỉ báo hành vi, bốn mức từ Theo mẫu đến Đột phá. Khung được 10 chuyên gia thẩm định, đạt chỉ số giá trị nội dung trung bình 0,87; thử nghiệm trên 30 học sinh lớp 10 chuyên Vật lí cho hệ số tương quan nội lớp 0,84. Khung đánh giá hỗ trợ giáo viên nhận diện biểu hiện sáng tạo và thiết kế can thiệp sư phạm qua bài tập thí nghiệm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 7
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội mới đối với việc thiết kế và xây dựng trò chơi kĩ thuật số phục vụ dạy học, đặc biệt ở cấp Tiểu học. Tuy nhiên, các nghiên cứu về bộ nguyên tắc và quy trình thiết kế mang tính hệ thống dành cho trò chơi kĩ thuật số có sự hỗ trợ của AI trong môn Toán ở tiểu học vẫn còn hạn chế. Bài báo sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là phân tích và tổng hợp tài liệu. Đóng góp mới của bài báo là đề xuất bộ năm nguyên tắc và quy trình xây dựng trò chơi kĩ thuật số có sự hỗ trợ của AI đối với nội dung “Tỉ lệ bản đồ” gồm bốn bước: Xác định mục tiêu và hình thành ý tưởng trò chơi; Xác định các thành phần thiết kế cốt lõi của trò chơi; Sử dụng lệnh gợi nhắc để chuyển hóa ý tưởng thành trò chơi kĩ thuật số; Chạy thử, đánh giá và cải tiến. Nghiên cứu cũng minh họa quy trình thiết kế và xây dựng trò chơi kĩ thuật số có sự hỗ trợ của AI trong dạy học đối với nội dung “Tỉ lệ bản đồ”. Thông qua ví dụ minh họa, nghiên cứu gợi mở khả năng ứng dụng AI trong hỗ trợ thiết kế trò chơi kĩ thuật số, tạo nội dung học tập đa dạng và phát triển các hình thức tương tác phù hợp với đặc điểm học tập của học sinh Tiểu học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 9
Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đổi mới theo định hướng phát triển năng lực, học chế tín chỉ, học tập kết hợp và chuyển đổi số, chất lượng trải nghiệm học tập của sinh viên không chỉ phụ thuộc vào nhiệm vụ, phương pháp, phản hồi hay công nghệ, mà còn gắn với cảm nhận về vị trí trong cộng đồng lớp học. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận, kết hợp phân tích khái niệm và tổng hợp tài liệu có chọn lọc nhằm làm rõ cảm giác thuộc về trong lớp học đại học. Kết quả cho thấy, cảm giác thuộc về là điều kiện tâm lí - xã hội của trải nghiệm học tập có chất lượng, thay vì chỉ là trạng thái cảm xúc cá nhân hay chỉ báo hòa nhập học thuật - xã hội. Bài viết xác định bốn bình diện: Học thuật, quan hệ, cảm xúc và cộng đồng học tập; qua đó cung cấp cơ sở lí luận cho việc xây dựng lớp học đại học như một cộng đồng học tập kết nối, hỗ trợ và khuyến khích sinh viên tham gia có ý nghĩa.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 7
Nghiên cứu nhằm đề xuất và thử nghiệm bước đầu quy trình thiết kế bài học STEM môn Công nghệ theo mô hình 6E ở cấp Trung học cơ sở. Mặc dù giáo dục STEM đang được triển khai rộng rãi, việc tổ chức bài học STEM trong môn Công nghệ hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu một quy trình sư phạm chuẩn hóa, đặc biệt là sự thiếu hụt các nghiên cứu ứng dụng mô hình 6E tích hợp giai đoạn Thiết kế kĩ thuật phù hợp với đặc thù môn học. Quy trình được xây dựng trên cơ sở kết hợp đặc trưng của môn Công nghệ với sáu giai đoạn: Gắn kết, Khám phá, Giải thích, Thiết kế kĩ thuật, Mở rộng và Đánh giá. Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế bán thực nghiệm trên 60 học sinh lớp 8 tại Trường Trung học cơ sở Vĩnh Lộc A, gồm 30 học sinh thuộc nhóm thực nghiệm và 30 học sinh thuộc nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm học chủ đề “Mạch điện điều khiển tự động” theo quy trình đề xuất, trong khi nhóm đối chứng học cùng nội dung theo cách tổ chức thông thường. Dữ liệu được thu thập thông qua bài kiểm tra, Rubric đánh giá sản phẩm, biên bản quan sát lớp học và phiếu phản hồi của học sinh. Kết quả cho thấy, điểm trung bình của nhóm thực nghiệm đạt 7,23 ± 1,50, cao hơn nhóm đối chứng đạt 6,40 ± 1,67. Chênh lệch trung bình giữa hai nhóm là 0,83 điểm với kích thước ảnh hưởng Cohen’s d = 0,52. Dữ liệu định tính cho thấy quy trình 6E hỗ trợ học sinh tham gia vào hoạt động nhận diện vấn đề, thiết kế, lắp ráp, thử nghiệm và trình bày sản phẩm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 7
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và phát triển xã hội học tập, năng lực số của công dân - đặc biệt là lực lượng lao động trực tiếp và cán bộ cơ sở tại nông thôn - đóng vai trò quyết định đến khả năng hòa nhập và phát triển bền vững. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng năng lực số của công dân, tập trung vào nhóm lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (Nhóm 06) và cán bộ quản lí cấp xã tại Việt Nam dựa trên Khung năng lực số Châu Âu (DigComp). Dữ liệu thu thập từ 510 khách thể tại tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Trị và Thành phố Hồ Chí Minh thông qua bảng hỏi chuẩn hóa. Kết quả phân tích cho thấy năng lực số chung của công dân đạt mức trung bình. Người dân thực hiện tương đối tốt các kĩ năng hiểu biết thông tin và giao tiếp số, nhưng gặp hạn chế lớn ở lĩnh vực sáng tạo nội dung số và giải quyết vấn đề. Phân tích ANOVA và chỉ số kích thước ảnh hưởng (η²) khẳng định sự tồn tại của khoảng cách số đa chiều chịu tác động mạnh bởi trình độ đào tạo, nghề nghiệp, độ tuổi và địa bàn cư trú, trong khi yếu tố giới tính không tạo ra sự phân hóa có ý nghĩa thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực số, thu hẹp khoảng cách số, góp phần thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập.