Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 106
Nghiên cứu này phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển năng lực số cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh chuyển đổi số và triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam. Khác với các nghiên cứu chủ yếu mô tả khung năng lực số hoặc khía cạnh triển khai, nghiên cứu tiếp cận theo hướng hệ thống, gắn cơ sở lí luận với thực trạng và giải pháp phát triển năng lực số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp tổng quan tài liệu với khảo sát 661 cán bộ quản lí, 7.415 giáo viên và 70.116 học sinh tại 13 tỉnh, thành phố. Kết quả cho thấy, trên 90% cán bộ quản lí và giáo viên đánh giá cao vai trò của năng lực số; hạ tầng công nghệ tại nhiều nhà trường được cải thiện. Tuy nhiên, việc phát triển năng lực số trong dạy học còn thiếu đồng bộ, vẫn tồn tại sự chênh lệch về điều kiện triển khai giữa các vùng miền. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp về phát triển chương trình, đổi mới dạy học, kiểm tra, đánh giá và tăng cường các điều kiện đảm bảo nhằm nâng cao hiệu quả phát triển năng lực số cho học sinh trung học cơ sở.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 94
Nghiên cứu đánh giá năng lực dạy viết của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học từ góc nhìn của sinh viên và giảng viên tại 08 cơ sở đào tạo giáo viên đại diện cho các vùng miền trên cả nước. Khảo sát được thực hiện trên 408 sinh viên năm thứ ba, thứ tư và 32 giảng viên, kết hợp quan sát 70 sinh viên trong quá trình thực hành dạy viết. Công cụ nghiên cứu gồm bảng hỏi với khung 08 năng lực thành tố và 18 tiêu chí được cụ thể hoá theo yêu cầu dạy viết đoạn văn và văn bản ở tiểu học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn (thang Likert 5 mức), phiếu quan sát kĩ năng dạy viết và phỏng vấn sâu giảng viên. Kết quả cho thấy, năng lực dạy viết của sinh viên đạt mức trung bình khá; các năng lực được thực hành nhiều hơn trong chương trình đào tạo có điểm cao hơn các năng lực ít được trải nghiệm thực tế. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa đánh giá của giảng viên và tự đánh giá của sinh viên ở một số thành tố, phản ánh khoảng cách giữa kì vọng đào tạo và mức độ tự nhận thức của sinh viên.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 74
Các nghiên cứu về sự sẵn sàng giao tiếp (Willingness to Communicate) (WTC) trong bối cảnh giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên thiết kế khảo sát cắt ngang và đo lường WTC như một đặc điểm tương đối ổn định tại một thời điểm tổng quát. Tuy nhiên, theo mô hình của MacIntyre và cộng sự (1998) và dưới góc nhìn của Lí thuyết Hệ thống Động lực Phức tạp (CDST), WTC được khái niệm hóa như một trạng thái phụ thuộc thời điểm, có thể dao động trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ giao tiếp. Sự lệch pha giữa nền tảng lí thuyết động và cách đo lường tĩnh đặt ra yêu cầu điều chỉnh phương pháp luận. Thông qua tổng quan tích hợp các công trình thực nghiệm và lí thuyết tiêu biểu về phương pháp đo lường động được công bố từ năm 2011 đến 2025 trên các cơ sở dữ liệu SCOPUS, Web of Science, Google Scholar và ERIC, bài viết này đề xuất phương pháp đo lường động (Idiodynamic) như một hướng mở rộng trong nghiên cứu WTC tại Việt Nam, trình bày các nguyên tắc cốt lõi, phân tích ưu điểm và hạn chế, đồng thời giới thiệu thiết kế “neo kép” kết hợp đánh giá thời gian thực và kích thích hồi tưởng nhằm tăng độ nhạy tiến trình và tính phù hợp lí thuyết.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 114
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 76
Nghiên cứu đề xuất một hướng tổ chức dạy học phân hóa môn Toán lớp 11 theo định hướng nghề nghiệp dành cho học sinh có năng lực toán học hạn chế. Nghiên cứu khảo sát khó khăn học tập, động cơ học tập và nhận thức nghề nghiệp của học sinh, đồng thời phân tích vai trò của bối cảnh nghề nghiệp trong hỗ trợ vận dụng kiến thức Toán học. Nghiên cứu được thực hiện với 412 học sinh và 18 giáo viên tại tỉnh Lâm Đồng bằng phương pháp khảo sát cắt ngang kết hợp dữ liệu định lượng và định tính. Kết quả cho thấy, học sinh gặp khó khăn chủ yếu trong việc hiểu các khái niệm Toán học trừu tượng và vận dụng kiến thức vào giải bài tập; động cơ học tập và nhận thức nghề nghiệp còn hạn chế. So với cách triển khai dạy học phân hóa thông thường, tiếp cận được đề xuất xem bối cảnh nghề nghiệp được sử dụng như cơ sở tổ chức hoạt động học tập thay vì chỉ dùng để minh họa sau bài học. Theo đó, các tình huống nghề nghiệp tạo ra nhu cầu sử dụng kiến thức Toán học và nhiệm vụ học tập được phân hóa theo mức độ giải quyết vấn đề thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy bối cảnh nghề nghiệp có thể góp phần giảm tính trừu tượng của kiến thức và hỗ trợ học sinh tham gia học tập tích cực hơn.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 71
Năng lực số đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên khối ngành Khoa học Sức khỏe phân tích và ứng dụng dữ liệu y sinh học trong học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên, trong dạy học học phần Toán Thống kê Y học, việc phát triển năng lực số cho sinh viên còn hạn chế do chưa tích hợp đầy đủ công nghệ số và dữ liệu xác thực trong các nhiệm vụ học tập. Nghiên cứu này đề xuất tổ chức dạy học Toán Thống kê Y học theo định hướng phát triển năng lực số cho sinh viên Khoa học Sức khỏe. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, phân tích tài liệu và tổng hợp các công trình liên quan, bài báo xây dựng quy trình dạy học tích hợp công cụ số vào các tình huống y học nhằm cung cấp cơ sở lí luận cho việc phát triển năng lực tìm kiếm, xử lí dữ liệu, phân tích thống kê và ứng dụng công nghệ số trong học tập và nghiên cứu.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 112
Trong bối cảnh chuyển đổi số tại các trường phổ thông, việc nâng cao năng lực chuyển đổi số để đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí sẵn sàng cho quá trình này giữ vai trò then chốt. Bài viết tập trung tổng hợp và phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia nhằm làm rõ các chiến lược và phương thức bồi dưỡng hiệu quả. Các kinh nghiệm quốc tế cho thấy tầm quan trọng của việc đào tạo dựa trên khung năng lực chuẩn hóa, cá nhân hóa lộ trình phát triển và xây dựng cộng đồng học tập chuyên môn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm xây dựng lộ trình bài bản, giúp nâng cao tiềm lực và sự sẵn sàng cho chuyển đổi số của giáo viên và cán bộ quản lí tại các trường trung học phổ thông ở Việt Nam.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 120
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 74
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực, đào tạo giáo viên tiểu học hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển năng lực dạy học cho sinh viên. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là kết quả học tập các học phần Phương pháp dạy học, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong chương trình đào tạo có thể phản ánh và dự báo biểu hiện năng lực dạy học của sinh viên trong thực tập sư phạm vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa kết quả học tập học phần Phương pháp dạy học, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và biểu hiện năng lực dạy học trong thực tập sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu từ 141 sinh viên năm thứ tư, thông qua các phương pháp phân tích thống kê mô tả, tương quan và hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy, biểu hiện năng lực dạy học trong thực tập sư phạm có mối tương quan thuận với kết quả học tập các học phần Phương pháp dạy học và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị với các bên liên quan trong việc trong việc phát triển năng lực dạy học cho sinh viên giáo dục tiểu học.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 83
Xác suất có điều kiện là một trong các chủ đề kiến thức mới trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 2018 nhưng lại có ứng dụng quan trọng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như Y học, Kinh tế, Dự báo thời tiết… Mặc dù chủ đề này không có quá nhiều khái niệm, định lí hay công thức mới nhưng mỗi bài toán trong chủ đề này đều mô phỏng một tình huống thực tiễn hoặc rất gần với thực tiễn cuộc sống mà khi giải nó đòi hỏi người học phải hiểu và vận dụng đúng được các công thức để đưa ra được lời giải chính xác. Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng giải toán chủ đề này cho học sinh là rất quan trọng. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận để phân tích và tổng hợp các nghiên cứu về kĩ năng giải toán và rèn luyện kĩ năng giải toán, phân tích nội dung của chủ đề Xác suất có điều kiện từ đó đề xuất hệ thống kĩ năng giải toán cũng như quy trình giải toán chủ đề này để thông qua đó rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh lớp 12 trường trung học phổ thông. Kết quả nghiên cứu đã xác định 5 kĩ năng cốt lõi và đề xuất 3 quy trình giải tương ứng với bài toán xác suất có điều kiện, xác suất toàn phần và công thức Bayes. Mặc dù nghiên cứu này mới dừng ở nghiên cứu lí thuyết, tuy nhiên những kết quả này có thể được sử dụng như một cơ sở để giáo viên tổ chức rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh trong dạy học chủ đề này

