Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 147
Bài viết phân tích việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lí lớp học tại các trường Đại học Sư phạm kĩ thuật. Bài viết sử dụng phương pháp khảo sát và phỏng vấn giảng viên, sinh viên nhằm làm rõ lợi ích, thách thức và điều kiện triển khai trí tuệ nhân tạo trong hoạt động dạy học. Kết quả cho thấy trí tuệ nhân tạo có thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lí lớp học, hỗ trợ theo dõi quá trình học tập và cải thiện hiệu quả giảng dạy khi được áp dụng phù hợp. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế liên quan đến cơ sở hạ tầng, năng lực số của giảng viên và các vấn đề đạo đức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả và có trách nhiệm trong giáo dục đại học. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các trường Đại học Sư phạm kĩ thuật tại Việt Nam, góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lí lớp học ở bối cảnh đào tạo giáo viên kĩ thuật.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 162
Trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong những năng lực quan trọng cần phải hình thành và phát triển cho học sinh. Năng lực giao tiếp và hợp tác có vai trò đặc biệt quan trọng cần phát triển ở học sinh, giúp học sinh có khả năng thích ứng, hội nhập và qua đó phát triển năng lực bản thân. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về đổi mới phương pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 10. Đồng thời, bài viết phân tích, so sánh và đánh giá thực trạng đổi mới phương pháp dạy học tại một số trường trung học phổ thông, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong giảng dạy môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 10 đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 115
Tác giả đề xuất khung Dự báo → Phân tầng → Can thiệp cho học phần Kĩ năng mềm. Nhật kí hoạt động tuần T1-T7, điểm chuyên cần/thưởng, bài tập ngắn và báo cáo đồng học/tự đánh giá được chuẩn hoá thành đặc trưng ở mức cá nhân và nhóm. Mô hình XGBoost đa lớp kèm hiệu chỉnh isotonic và chia tách group–aware tạo xác suất tin cậy, từ đó suy ra cảnh báo ĐỎ/VÀNG/XANH và tổng hợp lớp/nhóm (phối trộn tầng, danh sách rủi ro). Trên một học kì giữ lại để kiểm định, hệ thống đạt Accuracy = 0.772, Macro-F1 = 0.520, AUPRC(C) = 0.739, Brier = 0.1008, ECE = 0.0577; mô hình tách rõ nhóm thành tích cao so với trung bình và dù lớp C hiếm vẫn xếp hạng rủi ro hiệu quả theo precision - recall. Quy trình chi phí thấp (Google Forms/Sheets thêm ít mã Python), minh bạch, dễ tái lập và hỗ trợ can thiệp phân tầng kịp thời.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 131
Miệt thị ngoại hình đang trở thành một dạng bạo lực tinh thần phổ biến trong trường học và trên không gian mạng, đòi hỏi cần có các chương trình giáo dục giúp học sinh nhận diện và phòng tránh. Nghiên cứu được tiến hành trong 04 tháng cuối năm 2024 trên học sinh lớp 5 tại tỉnh Phú Thọ với ba biện pháp rèn kĩ năng nhận diện nguy cơ bị miệt thị ngoại hình: 1) Thiết kế và tổ chức trò chơi nhận diện; 2) Tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với tình huống thực tiễn; 3) Sinh hoạt chuyên đề theo chủ điểm. Thực nghiệm được triển khai với 53 học sinh lớp thực nghiệm và 55 học sinh lớp đối chứng, đảm bảo tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục, trình độ giáo viên và cơ sở vật chất. Kết quả cho thấy, ba biện pháp đều có tính cần thiết, khả thi, hiệu quả và có giá trị ứng dụng trong thực tiễn. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chương trình giáo dục phòng chống miệt thị ngoại hình ở trường tiểu học, đồng thời nâng cao năng lực tự bảo vệ và kĩ năng sống cho học sinh trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 131
Bài viết tổng quan có hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển kĩ năng chăm sóc đáp ứng cho sinh viên và giáo viên mầm non, qua đó làm rõ xu hướng nghiên cứu và các định hướng thực tiễn chủ yếu. Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình PRISMA, phân tích 19 công trình khoa học được lựa chọn từ ba cơ sở dữ liệu VJOL, ResearchGate và Google Scholar. Kết quả cho thấy, chăm sóc đáp ứng được xác định là nguyên tắc sư phạm cốt lõi trong giáo dục mầm non, giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng tương tác giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ. Trên cơ sở phân tích nội dung các nghiên cứu, bài viết hệ thống hóa năm định hướng nghiên cứu và triển khai thực tiễn nổi bật, gồm: 1) Xây dựng chương trình và mô-đun đào tạo kĩ năng chăm sóc đáp ứng; 2) Phát triển năng lực cảm xúc và năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non; 3) Áp dụng các chiến lược tương tác đáp ứng trong môi trường lớp học; 4) Thúc đẩy mô hình phối hợp hỗ trợ giữa gia đình và cộng đồng; 5) Tăng cường thực hành nghề và trải nghiệm thực tập cho sinh viên sư phạm mầm non. Từ đó, bài viết đề xuất đẩy mạnh nghiên cứu thực nghiệm, tích hợp phát triển năng lực cảm xúc trong đào tạo giáo viên, đồng thời xây dựng mô hình hợp tác nhà trường - gia đình - cộng đồng nhằm thể chế hóa chăm sóc đáp ứng như một chuẩn mực nghề nghiệp trong giáo dục mầm non.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 172
Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở các nhà trường quân đội hiện nay chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy, việc xác định và đánh giá đúng vị trí, vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận và thực tiễn. Trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá mức độ tác động của những yếu tố thuộc về đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và những yếu tố thuộc về nhà trường, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chủ yếu gồm: nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phát triển năng lực số cho cán bộ, giảng viên; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lí về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và xây dựng môi trường số trong nhà trường, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở nhà trường quân đội hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 202
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, việc phát triển năng lực số cho giáo viên không chỉ là yêu cầu về mặt kĩ thuật mà còn là vấn đề về động lực học tập và phát triển nghề nghiệp bền vững. Bài viết vận dụng Lí thuyết Tự quyết định (Self-Determination Theory - SDT) để phân tích khung năng lực số cho giáo viên ở Châu Âu (DigCompEdu) và khung năng lực số cho giáo viên của UNESCO phiên bản 3 (ICT CFT v3). Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp phân tích tài liệu, thông qua việc trích xuất cấu trúc năng lực của từng khung, phân loại các thành tố theo ba nhu cầu tâm lí cơ bản của SDT (quyền tự chủ, năng lực bản thân và sự gắn kết) và so sánh mức độ tương thích ở từng khung năng lực số của giáo viên dựa trên các tiêu chí cụ thể về quyền tự chủ, năng lực bản thân và sự gắn kết. Kết quả phân tích cho thấy khung năng lực số DigCompEdu có mức độ tương thích cao với SDT ở cấp độ cá nhân nhờ nhấn mạnh quyền tự đánh giá, lộ trình phát triển năng lực rõ ràng và cộng đồng thực hành số của giáo viên. Trong khi đó, khung năng lực số ICT-CFT v3 thể hiện sự tương thích mạnh ở cấp độ hệ thống giáo dục, thông qua việc gắn phát triển năng lực số của giáo viên với chính sách, chương trình đào tạo và mục tiêu phát triển quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất việc kết hợp linh hoạt hai khung dưới nền tảng SDT là hướng tiếp cận phù hợp cho việc xây dựng Khung năng lực số cho giáo viên Việt Nam theo hướng phát triển bền vững.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 121
Đào tạo trình độ thạc sĩ trong lĩnh vực y khoa có ý nghĩa quan trọng và vai trò chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực nghiên cứu, cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đây là cấp đào tạo giữ vị trí then chốt trong việc phát triển bền vững hệ thống y tế Việt Nam hiện nay. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo trình độ thạc sĩ trên cơ sở kết quả khảo sát 80 cán bộ quản lí, giảng viên và 150 học viên cao học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu giúp các nhà trường có cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học trong thời gian tới để đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới giáo dục và nhu cầu thực tiễn xã hội.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 154
Rào cản ngôn ngữ là thách thức lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số Việt Nam trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Toán học. Dựa trên cơ sở lí luận về sự chuyển di ngôn ngữ và kết quả khảo sát diện rộng trên 3 463 giáo viên tiểu học, bài báo nhận diện ba nhóm rào cản cốt lõi mà học sinh thường gặp phải: 1) Khó khăn trong nhận dạng ngôn ngữ Toán học; 2) Khó khăn trong hiểu nội hàm thuật ngữ Toán học; 3) Khó khăn trong chuyển đổi biểu đạt. Từ cơ sở thực tiễn đó, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số, bao gồm sử dụng đồ dùng trực quan, gắn kết kiến thức với trải nghiệm đời sống, tăng cường tiếng Việt trong dạy học toán và ứng dụng công nghệ số. Kết quả khảo nghiệm thông qua tập huấn cho 185 cán bộ quản lí và giáo viên cốt cán tại 21 tỉnh thành cho thấy sự đồng thuận cao về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp, góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại vùng dân tộc thiểu số.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 154
Năng lực cảm xúc xã hội là thành tố quan trọng, góp phần quyết định hiệu quả nghề nghiệp và sức khỏe tâm lí của giáo viên mầm non. Trong đào tạo giáo viên mầm non tại Việt Nam, việc đánh giá năng lực này còn hạn chế do thiếu công cụ đo lường và tiêu chí chuẩn hóa. Nghiên cứu nhằm xây dựng và kiểm định bộ công cụ đánh giá năng lực cảm xúc xã hội cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí luận, tham vấn chuyên gia, khảo sát định lượng và kiểm định thực nghiệm. Dựa trên khung lí thuyết SEL/SEC, bộ công cụ gồm 30 mục, được cấu trúc thành các nhóm năng lực chính. Kết quả khảo sát 464 phiếu hợp lệ cho thấy thang đo đạt độ tin cậy cao (Cronbach’s Alpha > 0,85) và cấu trúc nhân tố phù hợp (KMO = 0,893; phương sai trích 68,8%). Công cụ có giá trị khoa học và tính khả thi trong đào tạo giáo viên mầm non.