Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 100
Bài viết nhằm xây dựng quy trình dạy học môn Lịch sử và Địa lí theo tiếp cận trải nghiệm ở tiểu học trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại và dữ liệu khảo sát thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng trống mà nghiên cứu tập trung giải quyết là sự thiếu vắng một quy trình chuyên biệt, có căn cứ thực tiễn dành cho giáo viên tiểu học khi tổ chức dạy học môn Lịch sử và Địa lí theo tiếp cận trải nghiệm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế hỗn hợp theo hướng mô tả - phát triển; dữ liệu được thu thập từ phân tích tài liệu, khảo sát 178 giáo viên và 75 cán bộ quản lí tại 14 trường tiểu học, kết hợp với quan sát sư phạm, phỏng vấn và phân tích sản phẩm học tập. Kết quả cho thấy, các nhà trường đã quan tâm đến việc xác định mục tiêu và đánh giá sau bài học, nhưng các hoạt động cốt lõi của dạy học trải nghiệm như dự kiến hình thức, địa điểm trải nghiệm; tổ chức cho học sinh khám phá trực tiếp; và tổ chức thao tác, thực hành còn thấp hơn và kém đồng đều hơn giữa các trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất quy trình 04 bước gồm: 1) Thiết kế kế hoạch bài dạy, 2) Tổ chức thực hiện, 3) Đánh giá kết quả và 4) Phát triển kế hoạch dạy học. Quy trình này góp phần cụ thể hóa định hướng dạy học theo tiếp cận trải nghiệm trong môn Lịch sử và Địa lí ở tiểu học, đồng thời cung cấp căn cứ tham chiếu cho giáo viên, tổ chuyên môn và hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 75

Nghiên cứu này nhằm xây dựng khung đánh giá kĩ năng thiết kế và tổ chức trò chơi học tập của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học theo tiếp cận kĩ năng nghề nghiệp gắn với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn đầu ra của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và định hướng Học thông qua Chơi. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tài liệu, tham vấn chuyên gia và xử lí thống kê dữ liệu. Kết quả đã xác lập khung đánh giá gồm 5 thành tố, 13 chỉ số hành vi và 4 mức độ phát triển, đảm bảo tính hệ thống, khả năng quan sát và đo lường. Kết quả tham vấn chuyên gia và kiểm định độ tin cậy cho thấy khung đánh giá có mức độ phù hợp cao và độ tin cậy tốt. Khung đánh giá góp phần hỗ trợ đánh giá và phát triển kĩ năng thiết kế, tổ chức trò chơi học tập cho sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên tiểu học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 93

Bạo lực học đường gây nhiều tổn thương tâm lí đối với học  sinh tiểu học, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tư vấn cho sinh viên sư  phạm. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của một chương trình rèn  luyện kĩ năng tư vấn cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại  học Hùng Vương nhằm hỗ trợ học sinh ứng phó với tổn thương do bạo  lực học đường. Chương trình được triển khai thông qua các hoạt động  trải nghiệm như: Xây dựng câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng, thực hiện các  dự án tư vấn theo chủ đề và tổ chức hoạt động trải nghiệm tại các cơ sở  tư vấn tâm lí. Thực nghiệm được tiến hành trên 120 sinh viên, chia thành  nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (mỗi nhóm 60 sinh viên). Kĩ  năng tư vấn được đánh giá theo bốn tiêu chí: Nhận diện tổn thương tâm  lí, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với tổn thương và tìm kiếm sự trợ giúp.  Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test độc lập.  Kết quả cho thấy, 68,3% sinh viên nhóm thực nghiệm đạt mức Tốt và  Xuất sắc, cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng, sự khá

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 99
Nghiên cứu so sánh hành vi tiếp cận video bài giảng giữa hai nhóm sinh viên học theo mô hình đảo ngược (n=45) và mô hình truyền thống (n=132). Thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm được thực hiện trong 15 tuần tại một trường đại học tư thục. Kết quả khảo sát 177 sinh viên cho thấy sự khác biệt về thời điểm xem video: 55.5% sinh viên lớp đảo ngược xem trước hoặc trong giờ học, trong khi chỉ 10.6% ở nhóm truyền thống làm như vậy. Về động cơ, nhóm đảo ngược có tỉ lệ động cơ học tập sâu cao hơn (81.6% so với 62.0%). Hành vi sử dụng video của nhóm đảo ngược cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (M=3.87 và M=3.58, p=.05). Ngược lại, kì vọng về hiệu suất và nỗ lực không có khác biệt cho thấy cả hai nhóm đều có cảm nhận tương tự khi tiếp cận với các video bài giảng. Phân tích YouTube Analytics bộc lộ xu hướng xem video tăng đột biến trước deadline và ưu tiên nội dung thực hành hơn lí thuyết. Nghiên cứu gợi ý rằng, mô hình đảo ngược có tác động mạnh đến hành vi quan sát được nhưng ảnh hưởng hạn chế hơn đến động cơ và thái độ nội tại, đồng thời cung cấp hàm ý thực tiễn cho việc thiết kế mô hình đảo ngược hiệu quả tại các trường đại học tư thục Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 89
Trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển sang tiếp cận phát triển năng lực gắn với bảo đảm chất lượng, học tập tự chủ trở thành năng lực cốt lõi đòi hỏi sự hỗ trợ hiệu quả từ hoạt động cố vấn học tập. Tuy nhiên, việc phát triển đội ngũ cố vấn học tập tại nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được định hướng một cách hệ thống theo các nguyên tắc quản lí chất lượng, đồng thời còn thiếu các công cụ đo lường được kiểm định để đánh giá mức độ thực hiện các nguyên tắc này. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần khắc phục khoảng trống đó. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi với 745 phiếu hợp lệ thu thập từ cán bộ quản lí, cố vấn học tập và sinh viên tại một số trường đại học ở Hà Nội. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định ANOVA nhằm xem xét sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng. Kết quả cho thấy các nguyên tắc quản lí chất lượng được thực hiện ở mức trung bình, đồng thời tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (ANOVA, p < 0,001). Đội ngũ cố vấn học tập có xu hướng đánh giá thấp hơn so với cán bộ quản lí và sinh viên. Đặc biệt, các nguyên tắc liên quan đến sự tham gia của các bên liên quan và phản hồi - cải tiến liên tục chưa được vận hành hiệu quả. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp cận phát triển đội ngũ cố vấn học tập theo hướng hệ thống, dựa trên quản lí chất lượng tích hợp và cải tiến liên tục, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý thực tiễn cho các cơ sở giáo dục đại học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 132

Nghiên cứu này đánh giá tác động của dạy học tích hợp trí tuệ nhân tạo theo khung AI-TPACK đến kết quả học tập nội dung xác suất thực nghiệm của học sinh lớp 5, thông qua bài học “Tỉ số của số lần lặp lại một sự kiện so với tổng số lần thực hiện”. Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng với thiết kế tiền kiểm và hậu kiểm trên hai lớp học sinh lớp 5 có trình độ tương đương. Nhóm thực nghiệm được tổ chức dạy học theo mô hình AI-TPACK với sự hỗ trợ của các công cụ AI trong hoạt động mô phỏng, trực quan hóa dữ liệu và phản hồi học tập, trong khi nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Kết quả phân tích định lượng cho thấy điểm trung bình hậu kiểm của nhóm thực nghiệm (M = 7,68; SD = 0,88) cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (M = 6,41; SD = 0,93) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Bên cạnh đó, kết quả khảo sát hứng thú học tập cũng cho thấy nhóm thực nghiệm đạt điểm trung bình cao hơn (M = 4,19; SD = 0,48) so với nhóm đối chứng (M = 3,44; SD = 0,59). Phân tích định tính từ quan sát lớp học và phiếu khảo sát cho thấy học sinh nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt về khả năng hiểu bản chất xác suất thực nghiệm, diễn đạt lập luận toán học và hứng thú học tập.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 86
Trong bối cảnh đào tạo nhóm ngành Sức khỏe chuyển mạnh sang đào tạo theo chuẩn đầu ra (Outcome-Based Education - OBE) và đào tạo dựa trên năng lực (Competency-Based Medical Education - CBME), phản hồi của người học và cựu người học ngày càng được xem là nguồn thông tin quan trọng cho cải tiến chương trình dạy học. Tuy nhiên, ảnh hưởng của phản hồi đến từng cấu phần cụ thể của chương trình dạy học vẫn chưa được làm rõ, đặc biệt khi phản hồi chưa được tiếp cận dưới góc độ chất lượng thông tin. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của chất lượng phản hồi từ người học và cựu người học đến phát triển chương trình dạy học theo chuẩn đầu ra trong đào tạo nhóm ngành Sức khỏe tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng thiết kế phương pháp hỗn hợp theo hướng giải thích, kết hợp khảo sát 464 giảng viên tại các cơ sở đào tạo nhóm ngành Sức khỏe với phỏng vấn sâu nhằm bổ trợ diễn giải kết quả. Dữ liệu định lượng được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính từng phần, trong đó chất lượng phản hồi được khái niệm hóa như một cấu trúc đa chiều dựa trên lí thuyết chất lượng thông tin. Kết quả cho thấy, chất lượng phản hồi có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tất cả các cấu phần của chương trình dạy học theo OBE. Đồng thời, phản hồi của người học tác động rõ hơn đến phương pháp dạy học và đánh giá, trong khi phản hồi của cựu người học liên quan chặt chẽ hơn đến chuẩn đầu ra và cấu trúc chương trình.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 109

Năng lực mô hình hóa Toán học được xem là cần thiết cho sinh viên Sư phạm, bởi đây là cơ sở để họ tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực Toán học ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp. Bài viết tổng quan 79 ấn phẩm khoa học được tìm kiếm từ cơ sở dữ liệu SCOPUS có liên quan đến chủ đề năng lực mô hình hóa của sinh viên Sư phạm. Từ đó phân tích quan niệm, vai trò, biểu hiện và các thách thức liên quan đến năng lực này, đồng thời hệ thống hóa những kinh nghiệm quốc tế trong đào tạo giáo viên. Bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm định hướng nghiên cứu về việc bồi dưỡng năng lực mô hình hóa Toán học cho sinh viên Sư phạm ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 87

Nghiên cứu mô tả thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội theo định hướng phát triển thương hiệu trong bối cảnh tự chủ giáo dục đại học. Dữ liệu được thu thập bằng khảo sát từ 388 khách thể, gồm 150 cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên và 238 sinh viên, nhằm đánh giá thực trạng nhận thức và nội dung xây dựng văn hóa nhà trường hướng tới phát triển thương hiệu ở Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Kết quả phân tích thực trạng thông qua phần mềm SPSS 26 cho thấy các khách thể đã nhận thức khá rõ về vai trò và nội dung văn hóa nhà trường. Tuy nhiên, mức độ chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi cụ thể còn hạn chế. Nhiều chuẩn mực liên quan đến phục vụ người học, kỉ cương học thuật, hợp tác và trách nhiệm giải trình chưa được thực hành lặp lại đủ thường xuyên để trở thành thói quen bền vững và được duy trì nhất quán giữa các đơn vị. Vì vậy, bản sắc văn hóa đặc trưng chưa thực sự nổi bật, khiến văn hóa chưa phát huy vai trò như nền tảng tạo khác biệt và nâng cao thương hiệu trong bối cảnh tự chủ đại học.