Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1
Quản lí cấp trung, bao gồm Trưởng khoa/bộ môn và trưởng ngành, đóng vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng đào tạo đại học, song nghiên cứu về lãnh đạo dạy học của đội ngũ này còn hạn chế, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu hệ thống để phân tích 20 công trình quốc tế giai đoạn 2015-2025, nhằm làm rõ vai trò, năng lực và mô hình lãnh đạo dạy học hiệu quả của quản lí cấp trung, đồng thời xác định các khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam. Kết quả cho thấy, lãnh đạo cấp trung đối mặt với ba thách thức chính: Vị trí “kẹp giữa” ban lãnh đạo và giảng viên, thiếu đào tạo chính thức về năng lực quản lí và khó khăn trong cân bằng gánh nặng hành chính với trách nhiệm lãnh đạo dạy học. Nghiên cứu đề xuất mô hình tích hợp ba kiểu hình: người che chắn, người điều phối và người thiết lập chương trình. Kết quả có giá trị thực tiễn cho nhà hoạch định chính sách trong xây dựng khung năng lực quốc gia, cho các trường đại học trong thiết kế chương trình đào tạo lãnh đạo và gợi mở hướng nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa năng lực lãnh đạo dạy học của trưởng khoa và chất lượng đào tạo tại Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học, nghiên cứu về quản lí dạy học tiếng Anh ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, các công trình hiện nay chủ yếu tập trung ở cấp độ lớp học và thiếu các phân tích mang tính hệ thống từ góc độ quản lí ở cấp chương trình và tổ chức. Các nghiên cứu này dường như chưa được đặt trong các khung lí thuyết về quản lí giáo dục hoặc quản trị công nghệ, dẫn đến hạn chế trong việc lí giải vai trò của quản lí trong quá trình tích hợp AI. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan có hệ thống các công trình quốc tế dựa trên dữ liệu SCOPUS và quy trình PRISMA, với 22 nghiên cứu được lựa chọn để phân tích. Kết quả cho thấy, số lượng công bố tăng mạnh từ năm 2023 nhưng chưa hình thành khung lí thuyết thống nhất. Bốn hướng tiếp cận chính được xác định gồm: chính sách và quản trị dữ liệu, phát triển đội ngũ, đảm bảo chất lượng và liêm chính học thuật, cùng với quản lí hệ sinh thái công nghệ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và tái cấu trúc tri thức dưới góc độ quản lí, đồng thời gợi mở nhu cầu phát triển các mô hình quản lí tích hợp nhằm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và đổi mới sư phạm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 5
Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quản lí đào tạo nghề cần chuyển sang tiếp cận dựa trên dữ liệu và cải tiến liên tục. Nghiên cứu này nhằm phân tích cơ sở lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp quản lí đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu thị trường lao động tại các trường trung cấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội theo chu trình DMAIC gồm Define (Xác định), Measure (Đo lường), Analyze (Phân tích), Improve (Cải tiến), Control (Kiểm soát). Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng 150 cán bộ quản lí, giảng viên, học viên và đại diện doanh nghiệp tại năm trường trung cấp với phỏng vấn sâu. Dữ liệu được xử lí bằng SPSS và AMOS thông qua kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định và mô hình phương trình cấu trúc. Kết quả cho thấy, các thành phần của chu trình DMAIC có ảnh hưởng tích cực đến mức độ đáp ứng thị trường lao động, trong đó Define có tác động mạnh nhất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống biện pháp quản lí theo từng pha của chu trình cải tiến. Kết quả khảo nghiệm và thực nghiệm bước đầu khẳng định tính phù hợp và khả thi của mô hình. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quản lí đào tạo nghề theo tiếp cận quản trị chất lượng dựa trên dữ liệu.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2
Bài viết tổng quan này tổng hợp và phân tích trên 30 công trình nghiên cứu đã xuất bản trên các tạp chí khoa học quốc tế, qua đó xác định sáu nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển từ vựng của trẻ khuyết tật nghe, nói 2–3 tuổi cấy ốc tai điện tử – giai đoạn được xem là “thời kì vàng” của phát triển ngôn ngữ nói. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự phát triển từ vựng của trẻ khuyết tật nghe, nói cấy ốc tai điện tử là một quá trình đa yếu tố, trong đó môi trường giao tiếp, năng lực của người chăm sóc và giáo viên, cùng chất lượng can thiệp đóng vai trò quyết định. Bài viết đề xuất khung lí thuyết tích hợp đa tầng (phát triển - thính học - giáo dục - xã hội) nhằm định hướng nghiên cứu tiếp theo và các chương trình can thiệp sớm trong bối cảnh Việt Nam, hướng tới tối ưu hóa sự phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ khuyết tật nghe, nói 2-3 tuổi đã cấy ốc tai điện tử.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1
Hoạt động dịch vụ giáo dục trong các trường mầm non tư thục là tổng thể các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhằm đáp ứng nhu cầu của cha mẹ trẻ trong bối cảnh xã hội hóa giáo dục và cơ chế thị trường. Thời gian qua, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến chất lượng dịch vụ giáo dục và sự hài lòng của cha mẹ trẻ; tuy nhiên, cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dịch vụ giáo dục trong các trường mầm non tư thục vẫn còn thiếu tính hệ thống và chưa được tích hợp đầy đủ giữa tiếp cận quản lí giáo dục và quản trị dịch vụ. Bài viết nhằm thu hẹp khoảng trống này bằng việc làm rõ cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dịch vụ giáo dục trong các trường mầm non tư thục trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện theo định hướng lí luận, sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các công trình khoa học trong và ngoài nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động dịch vụ giáo dục trong trường mầm non tư thục gồm bốn nhóm nội dung cơ bản: dạy học và giáo dục; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; tổ chức các hoạt động ngoại khóa và phát triển kĩ năng; hỗ trợ và phối hợp với cha mẹ trẻ. Công tác quản lí được triển khai theo các chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá gắn với cải tiến chất lượng dịch vụ. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dịch vụ giáo dục trong các trường mầm non tư thục theo hướng tích hợp và phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 0
Bài viết tập trung trình bày những nghiên cứu bước đầu về việc dạy học một số yếu tố giáo dục tài chính theo hướng tích hợp với nội dung môn Toán cấp Tiểu học. Trong bối cảnh giáo dục tài chính ngày càng được quan tâm trên thế giới, tại Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu có tính hệ thống về việc xác định nội dung giáo dục tài chính và cách thức tích hợp nội dung này trong dạy học môn Toán ở nhà trường tiểu học. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước, kết hợp với phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, phỏng vấn giáo viên, cán bộ quản lí và học sinh, bài báo xác định được những yếu tố cốt lõi của giáo dục tài chính với yêu cầu cần đạt (phù hợp với học sinh tiểu học) trong giai đoạn này, đồng thời đề xuất sáu chủ đề giáo dục tài chính. Bên cạnh đó, nghiên cứu xây dựng khung 12 kĩ năng giáo dục tài chính và 12 kĩ năng tính toán theo tiến trình phát triển kĩ năng của học sinh tiểu học, chỉ ra mối quan hệ song song, đan xen và hỗ trợ giữa hai trục kĩ năng này. Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành cơ sở khoa học ban đầu cho việc phát triển nội dung, phương pháp và công cụ đánh giá trong dạy học tích hợp giáo dục tài chính ở Tiểu học, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về triển khai nội dung dạy học cụ thể và thực nghiệm sư phạm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 0
Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng ảnh hưởng đến đời sống tâm lí của học sinh, nghiên cứu này tìm hiểu mối liên hệ giữa thể hiện bản thân trên mạng xã hội và sự hài lòng cuộc sống của học sinh trung học phổ thông. Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, nghiên cứu khảo sát trên 674 học sinh trung học phổ thông tại Đồng Tháp, Long An (thuộc Tây Ninh hiện nay) và Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2025. Kết quả cho thấy, học sinh thể hiện bản thân trên mạng xã hội về nhiều mặt ở mức trung bình và hài lòng cuộc sống trong nhiều lĩnh vực ở mức cao. Mức độ này cũng có sự khác biệt khi xét theo giới tính, học lực và nơi ở. Thể hiện bản thân trên mạng xã hội có tương quan thấp với hài lòng cuộc sống của học sinh trung học phổ thông, cho thấy sự hài lòng cuộc sống của học sinh chịu tác động từ nhiều yếu tố khác ngoài thể hiện bản thân trên mạng xã hội. Kết quả này gợi ý một số hướng nghiên cứu tiếp theo và can thiệp tâm lí trong giáo dục. Hạn chế của nghiên cứu cũng được đề cập trong bài báo.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 0
Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của nhận thức về giảng dạy thực hành nghề nghiệp đến hiệu quả học tập thực hành của sinh viên điều dưỡng. Dựa trên lí thuyết tự điều chỉnh học tập, chúng tôi giả thuyết rằng, mối quan hệ này được trung gian bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 226 sinh viên và cựu sinh viên ngành Điều dưỡng có kinh nghiệm đào tạo thực hành. Dữ liệu được phân tích bằng kĩ thuật Mô hình hóa phương trình cấu trúc Bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy, nhận thức về giảng dạy không có tác động trực tiếp đến hiệu quả học tập thực hành. Thay vào đó, mối quan hệ này được trung gian hoàn toàn bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Cụ thể, nhận thức tích cực về giảng dạy thúc đẩy sinh viên chuẩn bị kĩ lưỡng cho các buổi thực hành và chính sự chuẩn bị này, đến lượt nó, lại nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ. Cuối cùng, cả sự chuẩn bị và năng lực đều có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hiệu quả học tập. Những phát hiện này cho thấy để cải thiện chất lượng đào tạo thực hành, các nhà giáo dục cần tập trung vào việc xây dựng nhận thức tích cực cho sinh viên về quá trình giảng dạy. Việc tạo ra một môi trường học tập có cấu trúc, khuyến khích sự chuẩn bị và phát triển năng lực chuyên môn, là chìa khóa để chuyển hóa thái độ tích cực thành kết quả học tập cụ thể.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 0
Trong bối cảnh chuyển đổi số, giáo dục STEM được xem là hướng tiếp cận then chốt nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên kĩ thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu triển khai riêng lẻ dạy học theo dự án (PBL) hoặc quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP), thiếu các mô hình tích hợp có hệ thống và được kiểm chứng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm chứng mô hình i-STEM (PD) tích hợp PBL và EDP, thông qua việc xây dựng mô hình, triển khai dự án STEM trong kĩ thuật điện và đánh giá tác động đến kết quả học tập và năng lực sinh viên. Phương pháp hỗn hợp với thiết kế thực nghiệm bán đối chứng được áp dụng trên 50 sinh viên, chia thành nhóm thực nghiệm và đối chứng. Dữ liệu thu thập từ bảng hỏi, quan sát và đánh giá học tập, được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test. Kết quả cho thấy, mô hình i-STEM (PD) cải thiện có ý nghĩa năng lực giải quyết vấn đề và năng lực thiết kế kĩ thuật, đồng thời nâng cao mức độ tham gia và thái độ học tập. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và góp phần củng cố cơ sở lí luận, thực tiễn cho triển khai giáo dục STEM trong đào tạo kĩ thuật đại học tại Việt Nam.