Danh sách bài viết

Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,667
Tư vấn tâm lí học đường cho học sinh trong các lĩnh vực liên quan đến trường học đang trở thành vấn đề cấp bách mà nhà trường và xã hội quan tâm. Nhu cầu tư vấn tâm lí học đường được thể hiện rõ hơn trong mối quan hệ của học sinh với cha mẹ, bạn bè và thầy cô. Với tình hình hiện nay, dịch vụ tư vấn tâm lí học đường rất cần thiết cho học sinh. Quản lí tốt hoạt động tư vấn tâm lí học đường cho học sinh sẽ giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan đến việc giáo dục, phát triển nhân cách của các em, giúp đỡ, hỗ trợ và hướng dẫn các em phát triển phù hợp, lành mạnh để hiểu bản thân và người khác hơn. Để thực hiện mục tiêu đó, nhà trường phổ thông có thể thông qua nhiều biện pháp, trong đó, đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn tâm lí học đường cho học sinh được xem là cấp thiết. Bài viết đề cập đến thực trạng quản lí hoạt động tư vấn tâm lí học đường, qua đó đề xuất biện pháp đổi mới trong tổ chức cũng như quản lí hoạt động tư vấn tâm lí học đường cho học sinh trong quản lí giáo dục ở trường trung học phổ thông.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,463
Trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu đi trước, bài viết đưa ra định nghĩa về năng lực thích ứng, đồng thời xây dựng khung lí thuyết cho công cụ đánh giá năng lực thích ứng của giáo viên với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bộ công cụ gồm 4 tiêu chí, 46 chỉ báo tập trung vào các khía cạnh thích ứng: Sẵn sàng thích ứng, nguồn lực thích ứng, phản ứng thích ứng và kết quả thích ứng. Kết quả thử nghiệm độ tin cậy cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha chung đạt được của từng tiêu chí nằm trong giới hạn cho phép từ 0,6 đến 0,9; hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) của từng tiêu chí đạt được lớn hơn 0,3. Điều đó có nghĩa là, các biến quan sát của từng tiêu chí có sự tương quan với nhau. Cronbach’s Alpha nếu loại biến (Cronbach’s Alpha if Item Deleted) của 4 tiêu chí đều thấp hơn Cronbach’s Alpha chung và nằm trong giới hạn cho phép từ 0,6 đến 0,9. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho phép chúng tôi khẳng định độ tin cậy của các tiêu chí đo.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,154
Với mục đích nâng cao chất lượng dạy học nội dung giáo dục địa phương tại tỉnh Sơn La thông qua việc thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm, bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm sư phạm, bài viết làm rõ những nội dung: Tổng quan cơ sở lí luận về giáo dục trải nghiệm và giáo dục địa phương; Mô hình giáo dục trải nghiệm của David Kolb; Vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm của David Kolb để thiết kế, tổ chức dạy học một số chủ đề trong nội dung giáo dục địa phương cho học sinh tiểu học tại tỉnh Sơn La. Ý nghĩa của việc vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm của David Kolb để tổ chức các hoạt động giáo dục địa phương nhằm giúp học sinh biết, hiểu các vấn đề của địa phương như văn hóa, lịch sử, môi trường…; phát triển các kĩ năng tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm…; hình thành ở học sinh ý thức tôn trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử… và có những đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của địa phương. Giáo dục trải nghiệm là một cách tiếp cận hiệu quả và phù hợp để dạy một số nội dung trong giáo dục địa phương, đồng thời là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp học hiện nay.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,844
Năng lực thích ứng có ý nghĩa quan trọng giúp con người có thể tồn tại và đáp ứng với những thay đổi trong cuộc sống. Dạy học trải nghiệm là một mô hình dạy học phù hợp đối với việc phát triển năng lực thích ứng cho học sinh tiểu học. Thông qua quá trình dạy học trải nghiệm, học sinh thực hiện các hoạt động điều tra, khám phá, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống xung quanh, tạo điều kiện cho học sinh chủ động suy nghĩ, tham gia vào các hoạt động thực tiễn một cách tích cực trong giờ học. Qua đó, các em tìm ra những tri thức mới, giải pháp mới dựa trên kiến thức, vốn hiểu biết của bản thân hướng đến việc hình thành những phẩm chất, năng lực cho mình. Bài viết trình bày tổng quan những công trình nghiên cứu về năng lực thích ứng và phát triển năng lực thích ứng cho học sinh tiểu học thông qua dạy học trải nghiệm. Từ quá trình nghiên cứu tổng quan, bài viết đưa ra những nhận định chung và hướng nghiên cứu phù hợp.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,224
Giáo dục nghệ thuật cho học sinh theo hướng trải nghiệm là nội dung giáo dục quan trọng trong nhà trường phổ thông. Để nâng cao chất lượng giáo dục nghệ thuật cho học sinh theo hướng trải nghiệm, cần tăng cường quản lí việc thực hiện nội dung này. Tuy nhiên, giáo dục nghệ thuật và quản lí giáo dục nghệ thuật cho học sinh theo hướng trải nghiệm hiện đang là vấn đề vừa mới, vừa khó đối với các trường phổ thông nước ta, nhất là đối với các trường trung học phổ thông. Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục nghệ thuật và quản lí giáo dục nghệ thuật cho học sinh phổ thông theo hướng trải nghiệm nhằm thấy rõ tình hình nghiên cứu về vấn đề này, trên cơ sở đó xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,119
Mục tiêu nghiên cứu về việc thực hiện quan điểm chỉ đạo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thể hiện trong sách giáo khoa Sinh học 12 (Bộ Chân trời sáng tạo) được đưa vào dạy và học ở Việt Nam từ năm học 2024 - 2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sách giáo khoa Sinh học 12 (Bộ Chân trời sáng tạo) thực hiện đúng tinh thần các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đó là tập trung vào các mục tiêu chính: Cung cấp kiến thức khoa học, chính xác; Xây dựng con đường học tập cho học sinh; Hình thành cho học sinh những kĩ năng và thái độ thiết yếu phù hợp với lứa tuổi nhằm phục vụ hoạt động dạy và học ở trường trung học phổ thông. Về cấu trúc của sách, gồm phần đầu là nội dung hướng dẫn sử dụng sách; trang các bài học; trang các bài ôn tập; cuối cùng là bảng giải thích thuật ngữ. Điểm nổi bật của sách giáo khoa Sinh học 12 (Bộ Chân trời sáng tạo) là mỗi bài học được xây dựng bằng một chuỗi các hoạt động học của học sinh nhằm phát huy tối đang tính tự chủ của học sinh; các tình huống gắn liền với thực tiễn, coi trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế; thiết kế minh họa sách giáo khoa tạo sức hấp dẫn và tạo hưng phấn cho người học.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,529
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh đến việc hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi, năng lực đặc thù gắn với các môn học cụ thể trong nhà trường phổ thông. Với môn Ngữ văn, đọc hiểu văn bản là hoạt động quan trọng, khâu đầu tiên trong chiếm lĩnh và vận dụng tri thức văn học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực Ngữ văn. Để phát huy khả năng làm chủ, tự lập, tích cực và sáng tạo của học sinh, rất cần thiết phải trang bị cho các em về cách thức đọc hiểu văn bản; cách thức để hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực đọc hiểu. Vận dụng chiến thuật Vòng tròn văn học để tổ chức dạy học là hướng đi phù hợp, giúp học sinh từng bước làm chủ quá trình đọc; là cầu nối để bạn đọc học sinh từng bước trở thành bạn đọc độc lập, có kĩ năng đọc và sáng tạo. Không những thế còn giúp học sinh chủ động tham gia vào quá trình giải nghĩa văn bản; hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho người học.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,433
Chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cấp Trung học phổ thông bắt đầu được thực hiện từ năm học 2022 - 2023, là hoạt động giáo dục bắt buộc nhưng còn mới mẻ khiến nhiều giáo viên bỡ ngỡ, lo lắng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam chưa có giáo viên được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ này. Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lí luận và những mục tiêu, yêu cầu cần đạt của Chương trình, bài viết đề xuất khung năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp với bốn thành tố: 1/ Năng lực hiểu chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; 2/ Năng lực thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động; 3/ Năng lực thực hiện kế hoạch hoạt động; 4/ Năng lực đánh giá và điều chỉnh kế hoạch hoạt động. Đồng thời, bài viết cũng mô tả những biểu hiện của năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của giáo viên trung học phổ thông làm cơ sở phát triển năng lực này ở họ, đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,464
Năng lực dữ liệu về người học của giáo viên trong môi trường sư phạm đang dần hình thành và được đặt ra nhằm đánh giá chính xác sự phát triển của học sinh, từ đó đưa ra những hoạt động dạy học phù hợp với đối tượng, đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục. Thông qua các tài liệu liên quan về đối tượng dạy học, giáo viên phải có khả năng thu thập, xử lí chúng để tạo ra dữ liệu về người học, từ đó thấy rõ hơn việc học và thực trạng của người học. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này còn rời rạc, ít biết đến và chưa được chú trọng một cách hợp lí. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi nghiên cứu, xem xét và đánh giá một cách có hệ thống các kết quả công bố trên thế giới liên quan đến năng lực dữ liệu của giáo viên trong vòng hai thập kỉ qua. Từ đó, đưa ra những vấn đề cần thiết về năng lực dữ liệu người học của giáo viên, đồng thời chỉ ra những định hướng nghiên cứu rõ hơn về lĩnh vực này và vận dụng trong bối cảnh giáo dục ở Việt Nam.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 9,031
Sự phát triển vượt bậc của các công cụ trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đang từng bước khẳng định đây là công nghệ trụ cột mang tính cách mạng trong thế kỉ XXI - một công cụ hoàn toàn có thể tái cơ cấu hệ thống giáo dục trên toàn thế giới. Đối với tầm quan trọng của AI, các tổ chức lớn trên thế giới và Chính phủ các nước đang gấp rút đưa ra những đường lối chính sách cùng hướng dẫn cụ thể nhất nhằm tối ưu hoá lợi ích, chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với những thách thức và nguy cơ mà AI có thể mang lại. Đối với nền giáo dục đang phát triển như Việt Nam, AI chính là cơ hội để bứt phá nhưng cũng là nguy cơ bị thụt lùi. Do đó, bài viết tìm hiểu lịch sử phát triển của AI trong quá trình cách mạng giáo dục, phân tích tác động của AI trong hệ thống giáo dục toàn cầu và giáo dục Việt Nam, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng chính sách quản lí và sử dụng AI hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy và học, từ đó rút ngắn khoảng cách giáo dục giữa các khu vực và các nước.