Phát triển phẩm chất và năng lực cho trẻ mầm non là một trong những cách tiếp cận quan trọng trong việc nghiên cứu biên soạn Chương trình Mầm non mới đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay. Đây cũng là xu hướng tiếp cận mà nhiều chương trình mầm non của các nước phát triển trên thế giới đang triển khai và thực hiện. Bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu về những luận điểm mới liên quan đến giáo dục mầm non, bài viết hệ thống lại một số luận điểm mới trong sự phát triển tâm-sinh lí trẻ em lứa tuổi mầm non cũng như các quan điểm giáo dục hiện đại về phát triển phẩm chất năng lực trẻ em: phát triển năng lực bản thân - “Cái tôi bản thể”, phát triển năng lực nhận thức, phát triển năng lực cảm xúc xã hội, năng lực tổng hợp STEAM nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của từng trẻ em trong bối cảnh xã hội hiện nay, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề xuất xây dựng Chương trình Giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam.
Thực hành tiếng Việt là một trong những nội dung dạy học trong môn Ngữ văn hiện nay. Giống như các nội dung đọc, viết, nói và nghe, dạy học Thực hành tiếng Việt cũng được tổ chức thông qua các hoạt động dạy học. Để tổ chức tốt các hoạt động này, rất cần một phương tiện, đó là bài tập. Giờ học Thực hành tiếng Việt nói riêng và Ngữ văn nói chung có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tập. Tuy nhiên, việc xây dựng bài tập để tổ chức tốt hoạt động dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố và là một thách thức đối với nhiều giáo viên. Bài viết nghiên cứu quan niệm, vai trò, yêu cầu, quy trình xây dựng bài tập trong dạy học nội dung Thực hành tiếng Việt nhằm giúp giáo viên nâng cao kĩ năng xây dựng bài tập để tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học nội dung này.
Chuẩn đánh giá kết quả học tập đóng vai trò then chốt trong việc định hướng các hoạt động dạy và học, là nền tảng, công cụ cơ bản của các cơ quan quản lí giáo dục các cấp nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục. Cho đến thời điểm này, ở Việt Nam, khi Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã được triển khai nhưng vẫn chưa xác định được chuẩn đánh giá các biểu hiện về năng lực và phẩm chất trong các môn học và hoạt động giáo dục đối với mỗi lớp, cấp học, trong đó có môn Địa lí. Do vậy, để có được cơ sở khoa học cho việc xây dựng Chuẩn đánh giá môn Địa lí ở Việt Nam, nghiên cứu này tiến hành tổng quan các công trình phù hợp cho việc so sánh, phân tích. Bài viết xem xét khung chuẩn đánh giá môn Địa lí của ba nước: Hoa Kì, Canada và Úc, từ đó đưa ra một số khuyến nghị trong việc xây dựng chuẩn đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong môn Địa lí ở nhà trường phổ thông ở Việt Nam.
Trong chạy cự li trung bình (1500m), sức bền chuyên môn là yếu tố quan trọng, quyết định đến thành tích chạy 1500m. Bởi vì, trong nội dung này người tập phải chịu sự mệt mỏi, căng thẳng của thần kinh do lượng a-xít lactic trong máu tăng... đặc biệt là ở cuối cự li. Do đó, sức bền chuyên môn tốt thì khả năng chống chịu lại mệt mỏi sẽ tốt. Mặt khác, năng lượng cung cấp cho chạy 1500m ở cả hai hệ ưa khí và yếm khí. Vì thế, quá trình huấn luyện đòi hỏi giáo viên - huấn luyện viên phải sử dụng đa dạng các loại bài tập và chiến thuật thi đấu khác nhau, trong đó việc phát triển sức bền chuyên môn là yếu tố quan trọng không thể thiếu. Kết quả nghiên cứu là cơ sở dữ liệu quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện chạy 1500m cho các trường trung học phổ thông.
Cơ sở vật chất trong các cơ sở giáo dục mầm non là một trong các điều kiện để thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non. Đối với các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở vật chất của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập là một việc làm quan trọng và cần thiết. Tiêu chuẩn cơ sở vật chất là các quy định về diện tích đất/diện tích phòng/nhóm và quy cách đối với các cơ sở vật chất khác nhau trong khuôn viên và các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi tối thiểu bên trong các phòng/lớp của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập đó đảm bảo điều kiện cho việc vận hành cơ sở giáo dục mầm non độc lập, nhằm thực hiện các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo Chương trình Giáo dục mầm non. Bài viết sử dụng phương pháp hồi cứu tư liệu và phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm đề xuất quy trình xây dựng tiêu chuẩn cơ sở vật chất từ việc phân tích bối cảnh của việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở vật chất nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; Biên soạn dự thảo tiêu chuẩn cơ sở vật chất; Lấy ý kiến và hoàn chỉnh dự thảo tiêu chuẩn; Thẩm định tiêu chuẩn tiêu chuẩn; Công bố tiêu chuẩn; Xuất bản và phát hành tiêu chuẩn cơ sở vật chất cho các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
Hệ thống lí luận và thực tiễn về dạy học theo tiếp cận năng lực đã khẳng định rằng, đây là hướng tiếp cận có thể bảo đảm cho giáo dục đại học nói chung, giáo dục đại học trong quân đội nói riêng đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, quân đội. Bài viết trình bày thực trạng dạy học môn Giáo dục học quân sự ở 5 trường đại học trong quân đội theo tiếp cận năng lực, gồm: nhận thức về sự phù hợp của dạy học môn Giáo dục học quân sự theo tiếp cận năng lực; thiết kế bài học theo tiếp cận năng lực; sử dụng phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực và kết quả hình thành năng lực sư phạm quân sự cho học viên thông qua dạy học môn Giáo dục học quân sự ở các trường đại học trong quân đội. Qua phân tích thực trạng, bài viết sử dụng kiểm định Independent Sample T-test để đánh giá sự khác biệt giữa ý kiến của cán bộ quản lí, giảng viên và học viên về các nội dung khảo sát.
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh tại Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông. Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài viết là khảo sát trực tiếp 200 sinh viên tại trường. Kết quả của nghiên cứu được phân tích và tổng hợp để đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh tại trường. Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng về những điểm mạnh và điểm yếu của giảng viên tiếng Anh, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao sự hài lòng và hiệu quả học tập của sinh viên.
Dạy thêm, học thêm là một hiện tượng xã hội đã và đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đây là vấn đề nóng, luôn được dư luận xã hội quan tâm và vẫn là bài toán khó cho các nhà quản lí giáo dục Việt Nam. Từ một phần kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đánh giá tác động của dạy thêm, học thêm đến việc dạy và học trong nhà trường phổ thông”, bài viết đã khái quát lên bức tranh chung về thực trạng, xu thế của việc dạy thêm, học thêm tại Việt Nam và một số nước trên thế giới trong bối cảnh kinh tế, xã hội khác nhau qua những nghiên cứu đã được thực hiện về vấn đề này. Từ đó, nhóm tác giả tổng hợp các quan điểm đánh giá về những tác động của dạy thêm, học thêm ở cả góc độ tích cực và tiêu cực đối với học sinh, cha mẹ học sinh, giáo viên và xã hội. Đây là tiền đề, là cơ sở thực tiễn vững chắc để nhóm tác giả tiếp tục thực hiện những nghiên cứu tiếp theo, từ đó có những đề xuất về giải pháp cho dạy thêm, học thêm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Môi trường học tập là vấn đề mà giáo dục hiện đại rất quan tâm bởi những tác động mạnh mẽ của nó đến hiệu quả giáo dục nói chung và hoạt động dạy và học nói riêng. Việc nhận thức đúng đắn về môi trường học tập trong nhà trường là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát huy vai trò của nó. Nghiên cứu tiến hành tại Trường Đại học Quy Nhơn với khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lí giáo dục, sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục tiểu học và giảng viên tham gia giảng dạy ngành này đã ghi nhận được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức về khái niệm, vai trò, cấu trúc và yêu cầu của môi trường học tập trong nhà trường về cơ bản đã được đảm bảo. Tuy nhiên, một số vai trò quan trọng của môi trường học tập trong nhà trường chưa được nhìn nhận đúng mức cần được điều chỉnh.
Chương trình Giáo dục phổ thông (2018) đòi hỏi phải thay đổi cách dạy học chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Do đó, việc sử dụng những công nghệ mới và áp dụng các mô hình dạy học hiện đại trong giáo dục là một xu hướng tất yếu. Bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết, bài viết tập trung vào các mô hình dạy học kết hợp. Bên cạnh đó, bài viết xác định vai trò của Google classroom như công cụ hỗ trợ trong dạy học kết hợp và đề xuất tổ chức một số hoạt động dạy học trong bài “Núi lửa và động đất” sách giáo khoa Địa lí lớp 6 theo mô hình dạy học kết hợp.

