Danh sách bài viết

Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 840
Vốn từ được xem là nền móng để phát triển ngôn ngữ. Nhờ có vốn từ mà trẻ dễ dàng chiếm lĩnh được tri thức, vốn kinh nghiệm sống. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu vốn từ của trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Việc phát triển vốn từ cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ nhằm giúp các “em có vốn từ tích cực, hiểu nghĩa của từ và sử dụng các từ vào đúng mục đích, hoàn cảnh giao tiếp”. Trẻ ở giai đoạn 3 - 4 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về ngôn ngữ. Đây được gọi là thời kì “Phát cảm về ngôn ngữ”. Thời điểm này, cấu tạo của các cơ quan nghe và phát âm của trẻ vô cùng nhạy cảm và “thấm hút” rất nhanh ngôn ngữ, từ đó giúp trẻ dễ bắt chước các cách phát âm khác nhau, đánh dấu giai đoạn phát triển quan trọng về mọi mặt từ thể chất đến trí tuệ. Như vậy, vốn từ của trẻ rối loạn phổ tự kỉ phụ thuộc vào mức độ nặng - nhẹ, độ tuổi và thời gian can thiệp sớm.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,117
Trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều khó khăn trong mọi lĩnh vực phát triển, đặc biệt là các kĩ năng xã hội. Hạn chế trong giao tiếp tương tác xã hội, hành vi định hình dập khuôn lặp lại là những đặc điểm khiến trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều cản trở trong quá trình tiếp nhận và thực hành các kĩ năng xã hội trong cuộc sống. Bởi vậy, bên cạnh việc nhận diện và can thiệp sớm thì việc sử dụng câu chuyện xã hội để hỗ trợ cho quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ là rất quan trọng. Bài báo tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng câu chuyện xã hội trên mẫu khách thể là 60 giáo viên can thiệp tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số giáo viên đã nhận thức khá đầy đủ về các khái niệm và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng xã hội thông qua câu chuyện xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Điều này thể hiện qua việc giáo viên đã áp dụng các phương pháp khác nhau, tần suất sử dụng câu chuyện xã hội cũng như những đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn của giáo viên trong quá trình giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ tự kỉ 5 - 6 tuổi. Tuy nhiên, việc sử dụng câu chuyện xã hội chưa được hiệu quả, đồng đều và liên tục trong quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội. Từ kết quả nghiên cứu thực trạng đã định hướng việc có những nghiên cứu sâu, cụ thể hơn về vấn đề này.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 893
Hội chứng tự kỉ (ASD) là rối loạn phát triển não bộ ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp xã hội và hành vi. Tỉ lệ mắc ASD đang tăng đáng kể trên thế giới. Ở Việt Nam, việc tiếp cận các dịch vụ can thiệp cho trẻ tự kỉ còn hạn chế. Với đào tạo thích hợp, phụ huynh có thể hỗ trợ sự phát triển của con. Nghiên cứu này đánh giá tác động của các chương trình đào tạo phụ huynh đối đến sự tiến bộ của trẻ mắc hội chứng tự kỉ. Khảo sát được thực hiện với 178 phụ huynh và 247 giáo viên ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, trẻ có phụ huynh được đào tạo có tiến bộ hơn đáng kể về kĩ năng xã hội, giao tiếp, tự quản lí và học tập. Phụ huynh được đào tạo cũng báo cáo sự tăng tự tin về khả năng tự dạy con và hiểu biết về tự kỉ. Giáo viên quan sát sự tiến bộ ở nhóm trẻ có phụ huynh được đào tạo. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh vẫn chưa tiếp cận được đào tạo có hệ thống. Chương trình Parenting Partner Program được đề xuất nhằm giải quyết vấn đề trên, cung cấp phụ huynh những thông tin chuẩn xác, dạy phụ huynh về các kĩ thuật dựa trên ABA để hỗ trợ trẻ và tạo ra một mạng lưới kết nối giữa phụ huynh và với nhà chuyên môn.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 862
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng văn hóa số trong giáo dục trở nên cấp thiết trong các cơ sở giáo dục. Bài viết trình bày thực trạng một số vấn đề liên quan đến văn hóa số trong trường trung học cơ sở gồm sự cần thiết và nội dung của văn hóa số. Qua đó, bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về hiện trạng của văn hóa số thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu từ học sinh, giáo viên và cán bộ quản lí tại các trường trung học cơ sở công lập Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; sử dụng công cụ Independent Sample T-test để kiểm định sự khác biệt về ý kiến đánh giá giữa học sinh với cán bộ quản lí và giáo viên về các nội dung khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù đã có những tiến triển tích cực về văn hóa số trong trường trung học cơ sở, nhưng vẫn còn nhiều thách thức và hạn chế cần được khắc phục. Nghiên cứu này kì vọng sẽ góp phần vào việc nâng cao nhận thức và tạo động lực cho các nhà quản lí giáo dục, giáo viên và học sinh tích cực tham gia vào quá trình phát triển văn hóa số, góp phần phát triển giáo dục bền vững trong kỉ nguyên số.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,293
Phát triển năng lực cảm xúc - xã hội được xem như một phần không thể tách rời trong giáo dục toàn diện một học sinh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những học sinh được phát triển năng lực cảm xúc - xã hội sẽ có cuộc sống khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn, hoạt động tốt hơn ở trường… Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực cảm xúc - xã hội cho học sinh trung học cơ sở, từ đó góp phần bổ sung thêm lí luận về năng lực cảm xúc - xã hội và phát triển năng lực cảm xúc - xã hội cho học sinh trung học cơ sở. Kết quả được kì vọng giúp định hướng cho việc ứng dụng phát triển năng lực cảm xúc - xã hội cũng như phát triển năng lực cảm xúc - xã hội cho con người nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,428
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Việc đánh giá được phẩm chất và năng lực của học sinh cần phải có chuẩn đánh giá. Việc xây dựng Chuẩn đánh giá phẩm chất, năng lực trong các môn học nói chung và môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật nói riêng là việc làm cần thiết giúp cho giáo viên, học sinh và các nhà quản lí giáo dục có một “thước đo” trong đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh. Bài viết trình bày quy trình chung trong việc xây dựng Chuẩn đánh giá năng lực, từ đó đề xuất quy trình xây dựng Chuẩn đánh giá phẩm chất, năng lực trong môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật cấp Trung học phổ thông.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,005
Khái niệm hàm, mà một trường hợp riêng là khái niệm hàm số, đóng vai trò quan trọng nếu không nói là đóng vai trò trung tâm trong chương trình Toán phổ thông nói chung và Toán lớp 11 nói riêng. Tư duy hàm liên hệ chặt chẽ với khái niệm hàm số là một loại hình tư duy của toán học cần được rèn luyện cho học sinh. Tư duy hàm đề cập đến sự thay đổi và mối quan hệ giữa các đối tượng. Trong các sách giáo khoa, nội dung các bài toán thực tế minh họa cho khái niệm hàm số nói riêng và tư duy hàm nói chung được đặc biệt chú trọng. Tuy nhiên, việc vận dụng tư duy hàm vào dạy học các bài toán thực tế hàm số mũ và hàm số lôgarit còn là việc làm mới mẻ. Bài viết tập trung nghiên cứu các quan điểm của tư duy, tư duy Toán học, tư duy hàm. Bài viết đưa ra quan niệm, quy trình cũng như cách thức dạy học rèn luyện một số khía cạnh đặc trưng của tư duy hàm thông qua dạy học các bài toán thực tế hàm số mũ và hàm số lôgarit ở lớp 11.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,682
Bài viết tìm hiểu về mối liên hệ mật thiết giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác, chỉ ra văn học là nguồn tài nguyên, có thể gợi cảm hứng sáng tác, phóng tác… cho các loại hình nghệ thuật khác. Đồng thời, qua thực tiễn dạy học Ngữ văn với những bất cập ở đội ngũ giáo viên khi chưa theo kịp định hướng đổi mới của chương trình, bài viết nghiên cứu, đề xuất phương pháp dạy chuyên đề lớp 12, Chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông 2018: “Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ tác phẩm văn học” theo định hướng phát triển năng lực thẩm mĩ, năng lực nghệ thuật cho học sinh thông qua việc nghiên cứu về chuyển thể tác phẩm văn học sang loại hình nghệ thuật khác như hội họa và điện ảnh. Minh họa bằng hai tác phẩm: Bức tranh “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” và bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 953
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để phân tích làm rõ một số khái niệm: Năng lực, tư vấn, hướng nghiệp. Từ nội hàm của các khái niệm này, tác giả xây dựng các khái niệm: “Năng lực tư vấn hướng nghiệp” và “Năng lực tư vấn hướng nghiệp của giáo viên trung học phổ thông” ở Việt Nam; Dựa vào các căn cứ khoa học và các văn bản pháp luật hiện hành, tác giả mô tả cấu trúc “Năng lực tư vấn hướng nghiệp của giáo viên trung học phổ thông” gồm ba thành phần. Mỗi thành phần lại có các biểu hiện đặc trưng tương ứng. Nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị nhằm phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên trung học phổ thông qua hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,430
Trò chơi kĩ thuật số trong giáo dục đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu phổ biến toàn cầu từ đầu thế kỉ XXI nhưng còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Nước ta đang trên đà chuyển đổi số trong giáo dục. Bài viết này phát triển một bộ nguyên tắc và quy trình để thiết kế, xây dựng trò chơi kĩ thuật số cho việc dạy học toán ở cấp Tiểu học. Bài viết đề xuất năm nguyên tắc cốt lõi và quy trình bao gồm bốn bước chủ yếu, từ phân tích đặc điểm và nhu cầu học tập của học sinh đến thiết kế và phát triển trò chơi. Quy trình này không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng về vai trò của giáo viên trong việc định hình và phát triển nội dung học mà còn minh họa cách một trò chơi được thiết kế sáng tạo có thể tăng cường tính tương tác, ý nghĩa và động lực trong học tập. Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về phương pháp tạo ra các trò chơi giáo dục chất lượng, giúp giáo viên tiếp cận phương pháp dạy học mới mẻ và thú vị, đồng thời hỗ trợ các nhà phát triển trò chơi kĩ thuật số trong giáo dục hiểu rõ hơn về cách thức thiết kế trò chơi phù hợp với chương trình cấp Tiểu học.