Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 3,322
Chuyển đổi số đã là nhu cầu khách quan của sự phát triển, đặt ra nhiều yêu cầu mới cho tất cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực giáo dục được coi là ưu tiên hàng đầu. Chất lượng giảng dạy của giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần quan trọng trong đổi mới toàn diện giáo dục. Bài viết khảo sát ý kiến của 268 người, trong đó có 40 cán bộ quản lí, 162 nữ và 106 nam ở một số trường đại học công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn để phỏng vấn bán cấu trúc theo phương pháp thuận tiện, cỡ mẫu là 16 người gồm: 08 cán bộ quản lí và 08 giảng viên tham gia giảng dạy tại các trường đại học. Kết quả cho thấy, đội ngũ giảng viên trong trường đại học ngày một nâng cao về số lượng và năng lực chuyên môn; kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, dưới sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều yêu cầu mới về kĩ năng công nghệ, áp dụng công nghệ vào giảng dạy đòi hỏi giảng viên phải có những năng lực thực hiện thích ứng với chuyển đổi số trong giáo dục. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,862
Năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ là một trong những năng lực nghề nghiệp thuộc chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non. Do đó, xác định năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ của sinh viên ngành Giáo dục mầm non là một trong những cơ sở quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu tổng quan có liên quan đến đánh giá sự phát triển của trẻ và năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ của sinh viên. Ngoài ra, phương pháp khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi đối với 19 giảng viên dạy các học phần tâm lí trẻ em, giáo dục học mầm non, đánh giá trong giáo dục mầm non và 478 sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 của 3 trường Đại học Sư phạm trọng điểm tại Việt Nam (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), phương pháp phỏng vấn sâu một số giảng viên và sinh viên. Phân tích dữ liệu cho thấy, thực trạng năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ của sinh viên đạt mức độ trung bình. Bên cạnh đó, năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ còn có mối tương quan với các yếu tố như số năm học, điểm trung bình và trường mà sinh viên đang theo học. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở cho những đề tài tiếp theo xây dựng biện pháp phát triển năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,503
Trước sự phát triển của xã hội hiện đại, yêu cầu về việc trang bị kĩ năng sống cho học sinh đã trở thành một nhu cầu cấp thiết. Trong đó, năng lực của giáo viên đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Năng lực giáo dục kĩ năng sống của giáo viên tiểu học bao gồm khả năng thiết kế, tổ chức, hướng dẫn và đánh giá các hoạt động giáo dục kĩ năng sống. Bài viết nghiên cứu một số cấu trúc năng lực giáo dục của giáo viên và phân tích các thành phần năng lực giáo dục kĩ năng sống của giáo viên tiểu học bao gồm: 1) Năng lực nhận diện nội dung giáo dục kĩ năng sống, 2) Năng lực thiết kế các chủ đề giáo dục kĩ năng sống, 3) Năng lực thiết kế kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống, 4) Năng lực thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng sống, 5) Năng lực đánh giá kết quả tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống, cấu trúc gồm: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó mô tả chi tiết biểu hiện đặc trưng của các thành phần.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,014
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,055
Bài viết tập trung phân tích thực trạng quản trị tại các trường phổ thông tư thục ở vùng Đông Nam Bộ, với mục tiêu làm rõ những thách thức mà hệ thống giáo dục tư thục trong khu vực đang phải đối mặt. Thông qua các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ nhiều nhóm đối tượng, bao gồm cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh và học sinh. Kết quả cho thấy, mặc dù hệ thống trường tư thục đang trên đà phát triển nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác quản lí và tổ chức giáo dục. Những vấn đề nổi bật bao gồm sự thiếu đồng bộ trong quản lí nhân sự, hạn chế về nguồn lực công nghệ và đặc biệt là sự thiếu hụt trong các dịch vụ hỗ trợ tâm lí, hướng nghiệp cho học sinh. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và sự phát triển toàn diện của học sinh. Nghiên cứu kết luận rằng, để nâng cao hiệu quả quản trị, các trường cần tập trung cải thiện quy trình quản lí, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường các hoạt động hỗ trợ học sinh và giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục hiện đại.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,674
Trong quá trình giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ, việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường, giữa cha mẹ và giáo viên trong cả nội dung và hình thức thực hiện đều rất thiết yếu. Nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ, đồng thời phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ. Qua đó, một số biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường được đưa ra trong giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ 9 - 12 tuổi. Kết quả cho thấy, cha mẹ và giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng, sự cần thiết của việc phối hợp và quá trình phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Tuy nhiên, các hình thức và phương pháp phối hợp chưa được đa dạng và thống nhất giữa giáo viên và cha mẹ của trẻ nên hiệu quả chưa cao. Thực trạng chỉ ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 766
Trong công tác đào tạo nghề giáo viên mầm non, các trường sư phạm thường nghiên cứu, cập nhật những mô hình liên kết có ý nghĩa. Mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên của Clarke và Hollingsworth là một trong những lựa chọn đó. Nó chứa đựng những miền tác động lên giáo viên hoặc giáo viên tương lai - người học, từ đó giúp người học phát triển nghề nghiệp, đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình thực hành tại cơ sở. Quy trình vận hành mạng lưới liên kết và loại hình trường mầm non liên kết tổ chức thực hành cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non được xem là yếu tố ảnh hưởng dẫn đến sự đổi mới trong phát triển nghề nghiệp cho người học. Nhằm xác định quy trình vận hành tổ chức thực hành nghề nghiệp phù hợp, tập trung mở rộng mạng lưới liên kết về chất lượng và số lượng trường mầm non ngoài công lập, trường sư phạm cần tìm hiểu những điều chỉnh, đổi mới khi áp dụng quy trình liên kết đang vận hành; từ đó xác định những thay đổi từ sinh viên ngành Giáo dục mầm non. Bài viết trình bày một phần thực trạng của quá trình vận hành thử nghiệm đó cũng như nhận thức của sinh viên tại một trường cao đẳng khi thay đổi loại hình trường mầm non thực hành nghề nghiệp.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 841
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,256
Singapore luôn là một hình mẫu được nghiên cứu, học hỏi, phân tích rất kĩ lưỡng. Những câu chuyện về sự phát triển thần kì của quốc gia này không còn mới mẻ. Tuy nhiên, sau hết nghiên cứu này tới nghiên cứu khác, bài báo này tới bài báo khác, một câu hỏi cần đặt ra là: Chúng ta thực sự đã học được gì từ Singapore và đã áp dụng được gì cho Việt Nam? Sự phát triển mạnh mẽ của Singapore đã tạo nên những khoảng cách đáng kể và giúp đất nước này vượt lên trên nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, ở một số lĩnh vực quan trọng của giáo dục, khoa học, công nghệ… Tuy đó là một sự thật đã được chấp nhận lâu nay nhưng cũng là điều rất cần được suy ngẫm để thay đổi. Mục tiêu của Việt Nam vẫn phải là đuổi kịp và có thể vượt Singapore trong nhiều lĩnh vực. So với Singapore, Việt Nam có nhiều lợi thế về thiên nhiên và tiềm năng con người. Những chiến lược hợp lí về sự kết hợp hiệu quả của giáo dục với văn hóa nhằm khai thác các tiềm năng này sẽ tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội trong những cuộc đua hướng đến tương lai.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 993
Nghiên cứu ứng dụng Hệ thống Social Listening (lắng nghe mạng xã hội) vào kì thi Đánh giá năng lực học sinh trung học phổ thông (HSA) thông qua việc thu thập, phân tích các ý kiến, bình luận và phản hồi của xã hội về kì thi HSA trên các nền tảng truyền thông xã hội giúp Trung tâm Khảo thí Đại học Quốc gia Hà Nội theo dõi, phát hiện nhanh chóng các vấn đề rủi ro và kiểm soát thông tin, từ đó có những đề xuất giải pháp kịp thời góp phần nâng cao chất lượng kì thi. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng Hệ thống lắng nghe mạng xã hội vào kì thi HSA đóng vai trò then chốt trong việc quản lí thông tin dư luận, giúp phát hiện và ứng phó kịp thời với các tình huống khủng hoảng truyền thông có thể ảnh hưởng đến uy tín của kì thi.

