Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 5,062
Hiện nay, các trường tiểu học đang thực hiện dạy học theo Chương trình Giáo dục phổ thông (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) ở các lớp 1, 2, 3, 4. Yêu cầu đánh giá kết quả giáo dục theo Chương trình 2018 đang được đặt ra, nhằm xác định mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập, đồng thời cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời để có những điều chỉnh hợp lí các hoạt động dạy học, quản lí và phát triển chương trình, đáp ứng mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục trong những năm tiếp theo. Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã định hướng căn cứ để đánh giá mức độ phát triển hai năng lực đặc thù của môn học (năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học) của học sinh là các yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe đối với học sinh mỗi lớp học, cấp học được quy định trong chương trình. Ở cấp Tiểu học, để đánh giá năng lực học sinh qua các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe trong môn Tiếng Việt, cần xây dựng Chuẩn đánh giá cho từng kĩ năng ở mỗi lớp học. Bài viết này đã phân tích yêu cầu cần đạt về kĩ năng viết nêu trong chương trình, từ đó đưa ra định hướng xây dựng Chuẩn đánh giá kĩ năng viết theo các mức kết quả đạt được của học sinh.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,493
Mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 2018 đã nhấn mạnh việc hướng học sinh đến khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Do đó, để góp phần thực hiện mục tiêu đó, giáo viên cần chú trọng đến năng lực mô hình hóa Toán học cho học sinh. Bài viết trình bày những khái niệm cơ bản về mô hình hóa Toán học và năng lực mô hình hóa Toán học. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số biện pháp sư phạm để bồi dưỡng năng lực mô hình hóa Toán học cho học sinh trong dạy học chủ đề Phương trình lượng giác ở lớp 11, giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc xây dựng các hoạt động để bồi dưỡng cho học sinh năng lực mô hình hóa Toán học.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,259
Bài viết trình bày cách thức vận dụng mô hình học tập trải nghiệm của David A. Kolb vào thiết kế các hoạt động học tập trải nghiệm trong dạy học học phần Đánh giá trong giáo dục mầm non cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non trình độ Đại học. Đánh giá trong giáo dục mầm non là một học phần nghề nghiệp bắt buộc trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non. Sinh viên sau khi học xong học phần không chỉ phát triển các năng lực chung mà còn phát triển năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp. Trên cơ sở chuẩn đầu ra học phần, mục tiêu, nội dung môn học, giảng viên lựa chọn nội dung phù hợp trong môn học để thiết kế hoạt động học tập trải nghiệm theo chu trình bốn bước của Kolb. Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra một ví dụ cho việc vận dụng mô hình học tập trải nghiệm vào thiết kế các hoạt động cho một nội dung cụ thể trong học phần.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,260
Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã làm thay đổi cách thức làm việc, học tập, nghiên cứu của nhiều người. Vì vậy, trong những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học đã và đang trở thành một xu thế phát triển mạnh mẽ ở các trường học, cấp học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho sinh viên là việc làm cần thiết. Nó giúp người học khai thác thông tin, kiến thức thông qua sự hỗ trợ của phần mềm công nghệ. Từ việc tìm hiểu ứng dụng của công nghệ thông tin đối với dạy học Vật lí, tác giả đề xuất một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho sinh viên năm nhất học tập môn Vật lí tại Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,987
Những cá nhân thuộc cộng đồng LGBT thường nhạy cảm và dễ bị tổn thương với những đánh giá của cộng đồng so với các nhóm người khác. Nghiên cứu này nhằm khám phá tác động của cảm xúc tiêu cực trong học tập, môi trường học tập và tương tác xã hội đến ý định nghỉ học của sinh viên. Bên cạnh đó, bài viết cũng điều tra và thảo luận sâu về vai trò của “phán xét của cộng đồng” trong việc điều tiết ba tác động trên cho nhóm sinh viên thuộc cộng đồng LGBT. Bằng kĩ thuật ước lượng bình phương nhỏ nhất riêng phần cho 165 quan sát hợp lệ, những phát hiện chính của nghiên cứu là: 1/ Cảm xúc tiêu cực trong học tập có quan hệ cùng chiều với ý định nghỉ học, đồng thời phán xét của cộng đồng làm thúc đẩy mạnh mẽ ý định này; 2/ Môi trường học tập thiếu sự cảm thông và chia sẻ sẽ hun đúc ý định nghỉ học. Tuy nhiên, phán xét của cộng đồng là trung tính đối với tác động này; 3/ Tác động của tương tác xã hội đến ý định nghỉ học là không rõ ràng. Phát hiện của nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cơ sở giáo dục đại học, cộng đồng có những hành động và cách ứng xử phù hợp hơn với nhóm sinh viên thuộc cộng đồng LGBT.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,461
Trình độ kĩ năng nghề luôn là một trong những điều kiện tiên quyết quyết định chất lượng của đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp nói riêng và chất lượng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung. Tuy nhiên, tỉ lệ nhà giáo đạt chuẩn về trình độ kĩ năng nghề để dạy thực hành và dạy tích hợp vẫn chưa cao. Để phát triển kĩ năng nghề cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp cơ bản: 1) Công nhận đạt chuẩn trình độ kĩ năng nghề để dạy thực hành cho nhà giáo; 2) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo đạt chuẩn về trình độ kĩ năng nghề, hướng tới tiếp cận trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; 3) Gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp để trao đổi, nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho nhà giáo.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,131
Năng lực nghề của giáo viên mầm non Singapore được nêu ra như là một phần không thể thiếu trong “Tiêu chuẩn chuẩn chất lượng giáo dục mầm non quốc gia” của đất nước này. Bài viết khai thác các thông tin về kinh nghiệm thiết kế khung năng lực nghề giáo viên mầm non bao gồm mục đích của khung năng lực, những năng lực nào cần có, cách trình bày, cách sử dụng và những yêu cầu đối với công tác đào tạo nhằm giúp người học khi ra trường có thể đáp ứng với các tiêu chuẩn của khung năng năng lực nghề. Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của nước bạn và rút ra bài học sẽ giúp Việt Nam có định hướng tốt hơn cho việc đề xuất khung năng lực nghề giáo viên mầm non đáp ứng thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non theo tiếp cận năng lực người học.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,233
Với bất kì quốc gia nào trên thế giới, thanh niên, học sinh, sinh viên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt để xây dựng đất nước giàu mạnh, phát triển. Chính vì thế, lúc sinh thời, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm tới lực lượng nòng cốt của nước nhà. Một trong những biểu hiện của tinh hoa Hồ Chí Minh chính là phong cách của Người. Đó là một chỉnh thể thống nhất của phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử. Bài viết phân tích phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí Minh, từ đó xây dựng kĩ năng tư duy sáng tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,412
Trong bối cảnh bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số hiện đang là xu hướng tất yếu. Chuyển đổi số tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Các nhà trường có cơ hội tiếp nhận thêm nhiều kiến thức, phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy mới, nhiều phương thức quản lí phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, sự thay đổi này đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các cơ sở giáo dục. Nhiều nhà trường gặp khó khăn, hạn chế khi thực hiện quá trình chuyển đổi số trong dạy học và quản lí. Bài viết phân tích sự cần thiết và đánh giá thực trạng chuyển đổi số trong quản lí trường mầm non và phổ thông hiện nay về điều kiện đảm bảo thực hiện chuyển đổi số, mức độ thực hiện chuyển đổi số, hiệu quả sử dụng các phần mềm trong quản lí trường học, từ đó chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế chuyển đổi số trong quản lí trường mầm non và phổ thông hiện nay.
Số: /2023
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,097
Virus Corona (COVID-19) lần đầu tiên được phát hiện tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đặt ra những thách thức với tất cả các quốc gia trên thế giới trong những điều kiện chưa từng có tiền lệ. Đại dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Mỗi quốc gia có những chiến lược ứng phó khác nhau đối với dịch bệnh và tiếp tục duy trì, điều chỉnh hoặc đề xuất mới chính sách kinh tế, xã hội trong ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo các mục tiêu phục hồi sau đại dịch. Bài viết tập trung nghiên cứu và hệ thống lại những biện pháp, chính sách ứng phó của các quốc gia đối với đại dịch trong lĩnh vực giáo dục, đánh giá kinh nghiệm quốc tế gắn với những vấn đề đặt ra cho giáo dục Việt Nam. Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển giáo dục sau đại dịch.

