Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 779
Khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục đã được nghiên cứu phát triển ở nhiều nước từ thế kỉ trước và đã được ứng dụng vào hoạt động đánh giá và xếp loại học sinh. Ở Việt Nam, khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục mới được nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây nhưng chủ yếu tập trung vào việc phát triển các công cụ đo lường dưới dạng các bài thi trắc nghiệm mà chưa có các nghiên cứu ứng dụng vào lĩnh vực đánh giá, xếp loại học sinh. Từ góc độ các thành tựu của khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế về đánh giá và xếp loại học sinh, tác giả chỉ ra một số bất cập của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông hiện hành. Từ đó cho thấy sự cần thiết phải đổi mới quy chế này trong tiến trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 726
Bài viết nghiên cứu về thực trạng tham gia thế giới trực tuyến của sinh viên Đại học Huế. Mẫu nghiên cứu là 706 sinh viên đến từ 4 trường đại học của Đại học Huế bao gồm: Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Ngoại ngữ và Trường Đại học Kinh tế. Một bảng hỏi được thiết kế nhằm khảo sát 4 vấn đề khi tham gia thế giới trực tuyến, đó là: (1) Tỉ lệ và phương tiện tham gia thế giới trực tuyến; (2) Mức độ tham gia thế giới trực tuyến; (3) Địa điểm tham gia thế giới trực tuyến; (4) Mục đích tham gia thế giới trực tuyến. Kết quả khảo sát từ bảng hỏi cho thấy hầu hết sinh viên tham gia thế giới trực tuyến (với tỉ lệ 98,3%); phương tiện dùng để tham gia thế giới trực tuyến nhiều nhất là các thiết bị di động; mức độ và thời lượng tham gia trực tuyến của sinh viên khá cao; địa điểm tham gia thế giới trực tuyến chủ yếu là tại nhà/phòng trọ; mục đích chính tham gia thế giới trực tuyến là “tương tác trực tuyến qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...) xem bài/viết bài/like, comment, gửi tin/nhận tin...” và “nghe nhạc, xem nhạc, tải nhạc trực tuyến”. Kết quả nghiên cứu góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về các hoạt động trong thế giới trực tuyến của sinh viên ở thời đại công nghệ thông tin.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,009
Xuất phát từ các phương diện mục tiêu quản lí, thể chế quản lí, chủ thể quản lí, chức năng quản lí... bài viết nghiên cứu con đường quản lí giáo dục phổ thông của Trung Quốc trong gần 70 năm qua, đồng thời, vận dụng các tiêu chuẩn khoa học hóa, dân chủ hóa, pháp trị hóa để tiến hành đánh giá con đường quản lí giáo dục phổ thông này. Sự nghiệp quản lí giáo dục phổ thông của Trung Quốc là hành trình không ngừng tìm tòi để phát triển, để lại nhiều bài học kinh nghiệm (cả thành công và thất bại) quý báu, có giá trị cho lí luận và thực tiễn hiện đại hóa quản lí giáo dục phổ thông hiện nay
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,181
Từ năm học 2011-2012, việc dạy học Toán và các môn Khoa học tự nhiên bằng Tiếng Anh đã được triển khai ở một số trường trung học phổ thông nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Cách tiếp cận CLIL (Content and Language Integrated Learning) trong dạy học các môn học bằng ngôn ngữ thứ hai đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Bài viết trình bày kết quả thực nghiệm của việc xây dựng kế hoạch dạy học và thực nghiệm dạy môn Vật lí cho học sinh lớp 10 Trường Trung học phổ thông Khoa học Giáo dục - Hà Nội vào tháng 5 năm 2017 qua bài kiểm tra với 26 câu hỏi trắc nghiệm tiếng Anh. Hiệu quả của việc tổ chức dạy học theo CLIL giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh để học tập các môn Khoa học tự nhiên; tăng hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động, nâng cao chất lượng dạy học.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,424
Lê Thánh Tông là vị vua anh minh, chăm học, cần mẫn và có tài trong công việc triều chính. Lê Thánh Tông đóng vai trò quan trọng đưa đất nước Việt Nam nửa cuối thế kỉ XV vào thế ổn định, có kỉ cương, luật pháp. Ông không chỉ là một nhà vua giỏi, nhà chính trị tài ba, giữ vị trí hàng đầu trong công cuộc xây dựng, củng cố nhà nước phong kiến Việt Nam mà còn là một nhà văn hóa lớn của dân tộc; nhà văn, nhà thơ tài năng, có công lao to lớn trong công cuộc giáo dục và đào tạo nhân tài cho đất nước. Trong sự nghiệp chính trị của mình, Lê Thánh Tông là người đã đưa giáo dục thành nề nếp, quy củ và lấy đỗ trên 500 vị tiến sĩ - một kỉ lục chưa từng thấy dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Tác giả bài viết đề cập đến giáo dục khoa cử Nho học và những chính sách thu hút nhân tài thời Lê Thánh Tông.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 925
Việc hình thành năng lực dạy học văn nghị luận cho sinh viên sư phạm ngành Ngữ văn là một nghiệm vụ quan trọng và cần thiết. Sinh viên cần phải có năng lực tạo lập văn bản nghị luận và được rèn luyện thành thạo kĩ năng dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông. Quá trình hình thành năng lực dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn nghị luận nói riêng cho sinh viên được tổ chức theo ba giai đoạn cơ bản: (1) Hình thành kiến thức về dạy học văn nghị luận; (2): Rèn luyện kĩ năng dạy học văn nghị luận; (3) Hình thành năng lực dạy học văn nghị luận. Việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên đáp ứng chuẩn đầu ra là góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,075
Bài viết phân tích về khái niệm trí thông minh logic - Toán học, những biểu hiện về khả năng lĩnh hội và giải quyết các vấn đề toán học của đối tượng học sinh có dạng trí thông minh logic - Toán học nổi trội. Có nhiều biện pháp để rèn luyện và phát triển năng lực toán học vốn có cho học sinh, bài viết đưa ra một số biện pháp như: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng thuần thục các thao tác tư duy cơ bản; Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng công cụ Đại số vào giải quyết một số vấn đề Hình học; Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng công cụ Hình học để giải quyết một số bài toán Đại số. Từ đó, học sinh được rèn luyện tính linh hoạt, mềm dẻo trong tư duy giải quyết các vấn đề Toán học - nét nổi bật của học sinh có trí thông minh logic - Toán nổi trội
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,453
Việc nghiên cứu đặt giả thuyết khoa học cho đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu thành công. Bài viết đề cập đến khái niệm và đặc trưng của giả thuyết khoa học, vai trò của giả thuyết khoa học trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, các loại giả thuyết khoa học, cách đặt giả thuyết khoa học, việc kiểm chứng giả thuyết và những lỗi thường gặp khi đặt giả thuyết trong các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực đặt giả thuyết khoa học cho chủ thể nghiên cứu đề tài khoa học.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,011
Bài viết phân tích mô hình thực nghiệm giáo dục và định hướng phát triển mô hình Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Theo đó, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam là một hệ thống gồm các cấp: Tiểu học,Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Mỗi đơn vị trường học có bề dày lịch sử phát triển riêng trong sự thống nhất của đặc trưng Trường Thực Nghiệm. Sự tồn tại của Trường Thực Nghiệm những năm qua đã thể hiện vai trò và sứ mệnh của nó trong một giai đoạn lịch sử. Trường cần có định hướng phát triển mới trên cơ sở đặc điểm nhà Trường Thực Nghiệm đáp ứng xu thế đổi mới của giáo dục Việt Nam. Với đặc thù của một mô hình nhà trường thí điểm các vấn đề đổi mới của ngành và bắt kịp nhu cầu của thời đại, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ khẳng định được và vai trò của mình trong thời gian tới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 3,665
Bài viết trình bày tổng quan một số cơ sở khoa học của việc phát triển chương trình giáo dục, bao gồm cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lí, chính trị và cơ sở khoa học giáo dục. Trọng tâm của các cơ sở khoa học giáo dục đề cập đến triết lí giáo dục và các xu hướng quốc tế hiện đại trong phát triển chương trình giáo dục phổ thông, bao gồm: định hướng năng lực, định hướng chuẩn, dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, định hướng nghề nghiệp và định hướng khoa học, định hướng giáo dục khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học (STEM), chương trình giáo dục mở.

