Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,579
Nhằm mục đích chia sẻ một số kinh nghiệm về phương pháp học tập ở trình độ đào tạo đại học, bài viết giúp các đối tượng ở trình độ này, đặc biệt là sinh viên hệ chính quy có thêm những kĩ năng cần thiết để tiếp cận chương trình đào tạo mà mình theo đuổi. Từ việc trình bày bản chất của loại hình đào tạo đại học trong mối tương quan và sự khác biệt với loại hình đào tạo ở bậc phổ thông làm tiền đề, tác giả chia sẻ kinh nghiệm về một số phương pháp học tập ở trình độ đào tạo đại học như: Tự học tự nghiên cứu, học với tư cách học thành chuyên gia về nghề, học với tư cách nghiên cứu khoa học và phát minh sáng chế... Qua đó, người học có thể tự tin, chủ động tiếp cận và biết vận dụng các phương pháp trong học tập và nghiên cứu khoa học một cách hiệu quả.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,132
Thế giới ngày nay đang chứng kiến cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay gọi tắt là Cách mạng công nghiệp 4.0 với làn sóng phát triển các công nghệ nền tảng (platform technology) đột phá thể hiện ở 3 khối chính: Khối công nghệ vật lí, khối công nghệ số và công nghệ sinh học. Cuộc cách mạng đang tác động sâu sắc đến mọi mặt kinh tế, xã hội và thậm chí là cách sống của con người. Nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục đại học là đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho thị trường lao động mà bản thân nó cũng đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới dựa đã chỉ ra một số xu hướng chính phát triển giáo dục đại học bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, đó là: 1/ Xây dựng mô hình trường đại học phù hợp điều kiện mới; 2/ Đào tạo chuyên gia các ngành công nghệ 4.0 đáp ứng nhu cầu nhân lực thuộc lĩnh vực này; 3/ Đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo; 4/ Đổi mới phương pháp dạy học và 5/ Phát triển nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Nắm bắt các xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới trong bối cảnh công nghiệp 4.0 sẽ giúp giáo dục đại học Việt Nam phát triển đúng hướng, đáp ứng nhu cầu nhân lực, góp phần phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ, kinh tế-xã hội ở nước ta trong giai đoạn sắp tới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,097
Hiện nay, tại các trường tiểu học ở Việt Nam, việc áp dụng dạy học phân hóa đã ngày càng phát triển và được thực hiện một số hình thức khác nhau, một trong số đó là bài tập phân bậc. Tuy nhiên, thực trạng của việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa ở tiểu học hiện nay chưa đạt kết quả như mong muốn. Trên cơ sở phân tích nghiên cứu từ 308 cán bộ quản lí và giáo viên của 6 trường tiểu học tại thành phố Hà Nội, tác giả rút ra một số kết luận về thực trạng của việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa ở tiểu học và đưa ra một số kinh nghiệm của quốc tế như những gợi mở nhằm tăng cường hiệu quả của quy trình thiết kế dạng bài tập này trong thời gian tới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,564
Nghiên cứu đề xuất mô hình các câu lạc bộ thể dục thể thao trong sinh viên Trường Đại học Tiền Giang
Hiện nay, đối với sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học Tiền Giang nói riêng, hoạt động ngoại khóa là nhu cầu tất yếu, cấp thiết góp phần phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời nâng cao thành tích thể thao của sinh viên, nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt tốt hơn. Thông qua luyện tập thể thao sẽ giúp sinh viên hình thành tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giúp đỡ nhau, rèn luyện khả năng tự phán đoán, bản lĩnh... được thể hiện qua các giải thi đấu trong và ngoài trường các cấp, từ đó thu hút và động viên lôi kéo nhiều sinh viên tập luyện các môn thể thao mình yêu thích, giúp các em hạn chế tiếp cận các tệ nạn xã hội luôn rình rập. Mặt khác, hoạt động thể thao ngoại khóa nằm ngoài khung giờ học chính khóa của sinh viên cũng giúp các em giảm nhẹ căng thẳng sau những giờ học mệt nhọc. Vì vậy, rất cần nghiên cứu đề xuất các giải pháp hình thành các câu lạc bộ thể dục thể thao trong sinh viên để đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao trong sinh viên nhà trường.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,144
Quản lí nhà nước về nhà giáo là nhiệm vụ quan trọng nhất và phức tạp nhất trong quản lí nhà nước về giáo dục. Để thực hiện nhiệm vụ này, trong khoảng ba thập kỉ gần đây, quản lí nhà nước về nhà giáo đã chuyển từ mô hình quản lí nhân sự sang mô hình quản lí nguồn nhân lực với quan điểm nhà giáo là nguồn lực quan trọng nhất cần phát triển để thực hiện mục tiêu giáo dục. Với quan điểm đó, các nước trên thế giới đã ban hành các luật khác nhau về nhà giáo, từ Luật Nhà giáo đến các luật về nghề dạy học, về đào tạo nhà giáo, về chế độ đãi ngộ nhà giáo. Ở nước ta hiện nay, cách tiếp cận trong quản lí nhà nước về nhà giáo vẫn dừng lại chủ yếu theo mô hình quản lí nhân sự. Điều đó dẫn đến những bất cập trong phát triển đội ngũ nhà giáo khi hệ thống giáo dục đã trở nên rất phức tạp như ngày nay. Vì vậy, điều cần thiết là chuyển tư duy quản lí nhà nước về nhà giáo sang mô hình quản lí nguồn nhân lực để sớm xây dựng và ban hành Luật Nhà giáo.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 871
Giáo dục cũng như đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên rất được Hồ Chí Minh chú trọng. Đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo, yêu cầu đặt ra của Chương trình Giáo dục phổ thông mới và trước thực trạng cán bộ quản lí, giáo viên hiện nay thì việc vận dụng tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giáo dục đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên là việc làm cần thiết
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,454
Trong thời gian vừa qua, việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho học viên các trường sĩ quan quân đội đã được quan tâm và đạt được những kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ quân đội có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực tốt, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, công tác giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho học viên của các trường sĩ quan quân đội vẫn còn một số hạn chế. Vì vậy, những nhà quản lí giáo dục và đội ngũ nhà giáo cần phải đánh giá đúng thực trạng, xác định rõ nguyên nhân, từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho học viên, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,308
Giáo dục giới tính cho học sinh là vấn đề đã được đề cập đến từ lâu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với quan niệm Á Đông, vấn đề giới tính và tình dục là những vấn đề nhạy cảm. Người lớn thường có xu hướng né tránh hoặc giải thích không đầy đủ khi trẻ thắc mắc về những vấn đề này, dẫn đến việc trẻ phải tự tìm hiểu và đã gây ra những hậu quả khôn lường. Thực tế cho thấy, giới tính tình dục là vấn đề khoa học cần phải được giáo dục sớm cho học sinh ngay từ lứa tuổi tiểu học để các em có nhận thức đúng đắn và đưa ra những quyết định phù hợp về vấn đề này. Để học sinh được tiếp cận với vấn đề này một cách toàn diện, giáo dục giới tính và tình dục cần được lồng ghép vào một số môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường. Tiếp cận với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, bài viết đưa ra nguyên tắc lồng ghép giáo dục giới tính và tình dục toàn diện trong chương trình. Các nội dung giáo dục giới tính tình dục toàn diện cần giáo dục cho học sinh theo hướng dẫn quốc tế và xác định khả năng cũng như các yêu cầu cần đạt về giáo dục giới tính và tình dục toàn diện trong các chủ đề của môn Đạo đức cấp Tiểu học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,786
Bài viết sử dụng phiếu điều tra dạng bán cấu trúc để tìm hiểu thực trạng hoạt động ngoài giờ lên lớp của 160 sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh của Học viện Nông nghiệp Việt Nam ở các phương diện: Loại hình các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thời gian dành cho các hoạt động tiêu biểu mỗi ngày, kĩ năng quản lí thời gian, nguyên nhân sinh viên chọn các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ảnh hưởng của chúng tới kết quả học tập, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm để sinh viên quản lí thời gian tốt hơn, biết lựa chọn và cân đối các hoạt động ngoài giờ lên lớp để dành thời gian cho việc học tập.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,001
Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong việc xây dựng xã hội học tập. Cách tiếp cận và bài học kinh nghiệm từ các quốc gia này có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam.Việc nghiên cứu, tìm hiểu thành tựu về học tập suốt đời của ba quốc gia này có thể giúp các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách của Việt Nam có điều kiện so sánh với thực tiễn nước mình để rút ra những bài học phù hợp.

