Danh sách bài viết

Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 925
Việc hình thành năng lực dạy học văn nghị luận cho sinh viên sư phạm ngành Ngữ văn là một nghiệm vụ quan trọng và cần thiết. Sinh viên cần phải có năng lực tạo lập văn bản nghị luận và được rèn luyện thành thạo kĩ năng dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông. Quá trình hình thành năng lực dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn nghị luận nói riêng cho sinh viên được tổ chức theo ba giai đoạn cơ bản: (1) Hình thành kiến thức về dạy học văn nghị luận; (2): Rèn luyện kĩ năng dạy học văn nghị luận; (3) Hình thành năng lực dạy học văn nghị luận. Việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên đáp ứng chuẩn đầu ra là góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,077
Bài viết phân tích về khái niệm trí thông minh logic - Toán học, những biểu hiện về khả năng lĩnh hội và giải quyết các vấn đề toán học của đối tượng học sinh có dạng trí thông minh logic - Toán học nổi trội. Có nhiều biện pháp để rèn luyện và phát triển năng lực toán học vốn có cho học sinh, bài viết đưa ra một số biện pháp như: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng thuần thục các thao tác tư duy cơ bản; Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng công cụ Đại số vào giải quyết một số vấn đề Hình học; Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng công cụ Hình học để giải quyết một số bài toán Đại số. Từ đó, học sinh được rèn luyện tính linh hoạt, mềm dẻo trong tư duy giải quyết các vấn đề Toán học - nét nổi bật của học sinh có trí thông minh logic - Toán nổi trội
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,453
Việc nghiên cứu đặt giả thuyết khoa học cho đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu thành công. Bài viết đề cập đến khái niệm và đặc trưng của giả thuyết khoa học, vai trò của giả thuyết khoa học trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, các loại giả thuyết khoa học, cách đặt giả thuyết khoa học, việc kiểm chứng giả thuyết và những lỗi thường gặp khi đặt giả thuyết trong các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực đặt giả thuyết khoa học cho chủ thể nghiên cứu đề tài khoa học.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,011
Bài viết phân tích mô hình thực nghiệm giáo dục và định hướng phát triển mô hình Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Theo đó, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam là một hệ thống gồm các cấp: Tiểu học,Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Mỗi đơn vị trường học có bề dày lịch sử phát triển riêng trong sự thống nhất của đặc trưng Trường Thực Nghiệm. Sự tồn tại của Trường Thực Nghiệm những năm qua đã thể hiện vai trò và sứ mệnh của nó trong một giai đoạn lịch sử. Trường cần có định hướng phát triển mới trên cơ sở đặc điểm nhà Trường Thực Nghiệm đáp ứng xu thế đổi mới của giáo dục Việt Nam. Với đặc thù của một mô hình nhà trường thí điểm các vấn đề đổi mới của ngành và bắt kịp nhu cầu của thời đại, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ khẳng định được và vai trò của mình trong thời gian tới.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,135
Bài viết này đề cập đến vấn đề giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm cho trẻ mầm non dưới góc độ phân tích một số vấn đề lí luận có liên quan như: Các khái niệm, mục đích, phân loại, phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ và phân tích xu hướng thế giới trong giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm (thông qua việc xác định cơ sở lí luận và chương trình giáo dục mầm non của một số nước) nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm. Qua đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,202
Bài viết trình bày khung và các tiêu chí, chỉ báo phân tích chất lượng của hệ thống giáo dục dựa trên các nhân tố ảnh hưởng. Khung và tiêu chí phân tích chất lượng của hệ thống giáo dục bao gồm:1/ Kết quả đầu ra mong đợi của hệ thống giáo dục;2/ Kết quả đạt được; 3/ Hoạt động giáo dục; 4/ Đầu vào. Theo đó, chất lượng của hệ thống giáo dục được đánh giá dựa trên kết quả giáo dục đạt được so với kết quả đầu ra mong muốn đáp ứng nhu cầu xã hội của hệ thống giáo dục. Các tiêu chí, chỉ báo về chất lượng hoạt động giáo dục được xem là nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu về chất lượng của hệ thống giáo dục. Các tiêu chí và chỉ báo này cũng chính là căn cứ để phát triển chính sách, chiến lược, cơ chế... để phát huy thế mạnh nhằm khắc phục các hạn chế và nguyên nhân liên quan đến chất lượng của hệ thống giáo dục.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 818
Bài viết phân tích thực trạng năng lực sử dụng các phương pháp, phương tiện giáo dục gia đình tác động tới con thông qua tổ chức các hoạt động và tương tác của gia đình. Nghiên cứu được thực hiện trên 1000 cặp cha, mẹ - con ở độ tuổi thiếu niên đang học ở 5 trường trung học cơ sở: Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An, Nhật Tân, Cổ Nhuế II thuộc 3 quận nội thành: Quận Cầu Giấy, Quận Tây Hồ, Quận Bắc Từ Liêm của Thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực này của cha mẹ còn ở mức thấp, tiệm cận với mức trung bình. Sự khác biệt về mức độ năng lực này ở các cha mẹ có độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng các phương pháp, phương tiện giáo dục gia đình tác động tới con thông qua tổ chức các hoạt động và tương tác gia đình của cha mẹ.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 815
Sự hạn chế về kĩ năng tương tác xã hội của trẻ điếc chính là rào cản đối với khả năng hòa nhập, thích ứng xã hội của trẻ. Việc tăng cường hiệu quả tương tác xã hội cho trẻ điếc ở lứa tuổi mầm non sẽ giúp trẻ chủ động trong sử dụng ngôn ngữ và các phương thức biểu đạt và tiếp nhận thông tin trong bối cảnh giao tiếp, giúp cho sự phát triển và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ. Bài viết đề cập đến: Một số khái niệm liên quan đến khiếm thính, điếc và tương tác xã hội; Đặc điểm nhu cầu sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trong tương tác xã hội của trẻ điếc; Một số lưu ý đảm bảo tăng cường hiệu quả trong tương tác xã hội của trẻ điếc, trong đó nhấn mạnh đến khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, sử dụng phương thức giao tiếp tổng hợp và thích ứng với nhu cầu giao tiếp thị giác để tạo một môi trường thân thiện, không áp lực, không có sự phân biệt loại hình ngôn ngữ với trẻ điếc.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 779
Khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục đã được nghiên cứu phát triển ở nhiều nước từ thế kỉ trước và đã được ứng dụng vào hoạt động đánh giá và xếp loại học sinh. Ở Việt Nam, khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục mới được nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây nhưng chủ yếu tập trung vào việc phát triển các công cụ đo lường dưới dạng các bài thi trắc nghiệm mà chưa có các nghiên cứu ứng dụng vào lĩnh vực đánh giá, xếp loại học sinh. Từ góc độ các thành tựu của khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế về đánh giá và xếp loại học sinh, tác giả chỉ ra một số bất cập của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông hiện hành. Từ đó cho thấy sự cần thiết phải đổi mới quy chế này trong tiến trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 726
Bài viết nghiên cứu về thực trạng tham gia thế giới trực tuyến của sinh viên Đại học Huế. Mẫu nghiên cứu là 706 sinh viên đến từ 4 trường đại học của Đại học Huế bao gồm: Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Ngoại ngữ và Trường Đại học Kinh tế. Một bảng hỏi được thiết kế nhằm khảo sát 4 vấn đề khi tham gia thế giới trực tuyến, đó là: (1) Tỉ lệ và phương tiện tham gia thế giới trực tuyến; (2) Mức độ tham gia thế giới trực tuyến; (3) Địa điểm tham gia thế giới trực tuyến; (4) Mục đích tham gia thế giới trực tuyến. Kết quả khảo sát từ bảng hỏi cho thấy hầu hết sinh viên tham gia thế giới trực tuyến (với tỉ lệ 98,3%); phương tiện dùng để tham gia thế giới trực tuyến nhiều nhất là các thiết bị di động; mức độ và thời lượng tham gia trực tuyến của sinh viên khá cao; địa điểm tham gia thế giới trực tuyến chủ yếu là tại nhà/phòng trọ; mục đích chính tham gia thế giới trực tuyến là “tương tác trực tuyến qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...) xem bài/viết bài/like, comment, gửi tin/nhận tin...” và “nghe nhạc, xem nhạc, tải nhạc trực tuyến”. Kết quả nghiên cứu góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về các hoạt động trong thế giới trực tuyến của sinh viên ở thời đại công nghệ thông tin.