Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,344
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông đặc biệt là học sinh trung học cơ sở đang là vấn đề cấp thiết đối với giáo dục Việt Nam hiện nay. Nhiều trường xem đây là nhiệm vụ giáo dục của nhà trường nhằm trang bị và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản để có thể tham gia vào cuộc sống đa dạng, thích nghi với sự thay đổi của xã hội. Trong thực tế, các trường đang tiến hành giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nhưng hiệu quả giáo dục còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và điều kiện tổ chức học tập của từng cơ sở. Nội dung bài viết tập trung làm rõ tính cấp thiết của vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực ở Việt Nam hiện nay; đồng thời chỉ ra các kĩ năng sống cơ bản cần trang bị và phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu mới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,429
Quản lí công tác chủ nhiệm lớp là một nhiệm vụ quan trọng của người hiệu trưởng trường trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Bài viết đề xuất các biện pháp quản lí công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng ở trường trung học phổ thông thuộc tiểu vùng phía Nam Đồng bằng Sông Hồng phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Các biện pháp đó bao gồm: 1/ Đổi mới hoạt động xây dựng kế hoạch quản lí công tác chủ nhiệm lớp; 2/ Tổ chức hợp lí lực lượng tham gia công tác chủ nhiệm lớp; 3/ Tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác chủ nhiệm lớp; 4/ Bồi dưỡng kĩ năng, nghiệp vụ cho giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp; 5/ Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp; 6/ Đổi mới về thi đua, khen thưởng trong công tác chủ nhiệm lớp.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 857
Hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học được phản ánh qua các chỉ số như: IRR (internal rate of returns - tỉ suất hoàn vốn nội bộ); NPV (net present values - giá trị hiện tại ròng); BCR (benefit - cost rate - tỉ suất lợi ích chi phí). Sau khi so sánh chi phí, lợi ích và các chỉ số phản ánh hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam với một số quốc gia khác thuộc khối OECD, có thể thấy rằng đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay thuộc dạng “chi phí thấp - lợi ích thấp - hiệu quả thấp”. Việc nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đại học phải dựa trên cơ sở sự nỗ lực, chung tay góp sức của tất cả các bên hữu quan (Nhà nước - Nhà trường - Người học - Doanh nghiệp) nhằm hướng tới chuyển đổi mô hình đầu tư cho giáo dục đại học công lập ở Việt Nam giai đoạn tới theo hướng “chi phí hợp lí - lợi ích cao - hiệu quả cao”, đáp ứng sự kì vọng của xã hội cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước với mục tiêu đến năm 2030 cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,085
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, giai đoạn giáo dục cơ bản thực hiện phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp để đảm bảo trang bị cho học sinh kiến thức nền tảng, đáp ứng giai đoạn giáo dục phân hóa, định hướng nghề nghiệp. Quá trình dạy học các môn phải đặt trong tọa độ logic giữa lĩnh vực môn học - các môn học - các năng lực chung - các năng lực chuyên biệt. Qua việc xây dựng cơ sở thiết kế môn Khoa học tự nhiên, học sinh được trang bị tư duy khái quát về tri thức khoa học tự nhiên, kĩ năng hoạt động khoa học cũng như vận dụng được kiến thức đã học vào cuộc sống và định hướng nghề nghiệp tương lai.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 974
Bài viết đưa ra những lập luận khoa học cho việc tiếp cận mô hình cấu trúc năng lực hợp tác giải quyết vấn đề và mô hình học tập trải nghiệm nhằm giải thích các hoạt động học tập mà người học cần trải qua để phát triển năng lực. Từ đó, đề xuất phương pháp tổ chức bài học theo hình thức trải nghiệm để hình thành và phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề. Theo tác giả bài viết, để quá trình dạy học theo hình thức trải nghiệm với môn Hóa học thực sự có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho HS, cần trao đổi thông tin trong suốt quá trình, các công cụ đánh giá và các phương pháp dạy học cần linh hoạt và tích cực. Đây là một hướng nghiên cứu, ứng dụng khả thi, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới trong dạy học
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 823
Quản lí quan hệ công chúng trong giáo dục của Ban Tuyên giáo các tỉnh/thành ủy là quá trình tham mưu, tổ chức xây dựng và phát triển các quan hệ lợi ích chung giữa tỉnh, thành ủy và công chúng để đảm bảo tính công khai hay thực hiện trách nhiệm tuyên truyền và định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của ngành giáo dục các tỉnh, thành phố đối với công luận. Bài viết trình bày một số cách tiếp cận làm nền tảng cho việc nghiên cứu thiết kế và thực hiện quản lí quan hệ công chúng trong giáo dục của Ban tuyên giáo cấp tỉnh, bao gồm: Cách tiếp cận về các mối quan hệ; Cách tiếp cận về thuyết phục và ảnh hưởng xã hội; Cách tiếp cận lí thuyết giao tiếp đại chúng
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 789
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải đổi mới quản lí giáo dục. Hiệu trưởng có vai trò quan trọng đối với việc đổi mới ở trường trung học cơ sở. Nghiên cứu xây dựng khung năng hiệu trưởng trường trung học cơ sở và dựa vào khung năng lực này để đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá hiệu trưởng trường trung học cơ sở là một yêu cầu có tính cấp thiết. Việc xây dựng và triển khai khung năng lực hiệu trưởng trường trung học cơ sở phải được tiến hành theo các bước nhất định. Xây dựng và triển khai khung năng lực hiệu trưởng trường trung học cơ sở là việc làm vừa có ý nghĩa lí luận vừa có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 686
Nông thôn Việt Nam là nơi sinh sống của một bộ phận lớn dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Với khoảng 2/3 số dân ở khu vực nông thôn, xây dựng nông thôn mới là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển của đất nước. Quá trình xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân lực đảm bảo về chất lượng, về trình độ và tính hợp lí trong cơ cấu ngành nghề. Tuy nhiên, ở khu vực nông thôn, có đến 91% lao động chưa được đào tạo. Với lao động đã được đào tạo, đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng, khu vực nông thôn chỉ có khoảng 40-47% so với khu vực thành thị, trong khi lao động nông thôn chiếm khoảng hơn hai lần lao động ở khu vực đô thị. Với trình độ đại học thì tỉ lệ này còn thấp hơn nhiều, chỉ khoảng 15% (Báo cáo Quốc gia SABER, 2012). Đây là một thách thức rất lớn trong công cuộc xây dựng thôn thôn mới khi nhân lực cho khu vực nông thôn vừa yếu vừa thiếu. Với mục đích làm rõ nhu cầu nhân lực của nông thôn, phục vụ cho xây dựng nông thôn mới, bài viết trình bày thực trạng nhân lực của nông thôn tỉnh Thái Bình và nhu cầu đào tạo nhân lực đáp ứng với yêu cầu xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Đây là kết quả nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Bình, trong khuôn khổ của đề tài “Nghiên cứu Nhu cầu đào tạo nhân lực cho khu vực nông thôn trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới”.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 942
Vấn đề hướng nghiệp trên thế giới đã được đề cập đến từ rất lâu, tuy nhiên làm thế nào có thể thực hiện công tác hướng nghiệp hiệu quả là một bài toán mà hầu hết các quốc gia đặt ra. Muốn thực hiện được hiệu quả công tác này, chúng ta cần phải đào tạo được một đội ngũ các nhân viên, các chuyên gia hướng nghiệp chuyên nghiệp, để đáp ứng điều đó các tổ chức hướng nghiệp ở các quốc gia đã nghiên cứu và xác định được các năng lực và khung năng lực hướng nghiệp. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến năng lực hướng nghiệp của một số quốc gia trên thế giới như Mĩ, Anh, Scotland, Ai len... Mỗi một quốc gia khác nhau đều xác định các năng lực với vị trí và vai trò khác nhau như Mĩ, Ai len xác định các năng lực hướng nghiệp để đào tạo nhân viên tư vấn nghề nghiệp; Mĩ, Anh, Nam Phi thì xác định các năng lực hướng nghiệp để đào tạo các chuyên gia phát triển nghề nghiệp. Những kết quả này có thể làm khung tham chiếu để xây dựng năng lực và khung năng lực hướng nghiệp cho các nhà hướng nghiệp ở Việt Nam.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,237
Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học (STEM) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và sự phát triển bền vững của nhân loại. Trong một xã hội công bằng, hoà bình và thịnh vượng thì phụ nữ phải cùng với nam giới đóng góp bình đẳng và họ phải được đảm bảo cơ hội bình đẳng tham gia học tập ở tất cả các lĩnh vực, kể cả STEM. Bài viết tập trung phân tích thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh nữ, tìm ra nguyên nhân của những rào cản sự tham gia của phụ nữ và trẻ em gái trong lĩnh vực STEM, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể thu hút ngày càng nhiều học sinh nữ vào học lĩnh vực STEM, giúp các em biết nuôi dưỡng đam mê khi nhận thức đầy đủ những giá trị nghề nghiệp của lĩnh vực STEM và giá trị bản thân, từ đó phát huy tiềm năng, có kế hoạch phát triển nghề nghiệp để đi đến thành công lớn hơn về kinh tế và thực hiện bình đẳng nhiều hơn về mọi mặt

