Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,511
Trên cơ sở phân tích, làm rõ nội hàm một số khía cạnh lí luận về vai trò, vị trí của sinh viên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay đối với sự phát triển của đất nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng. Dựa trên kết quả khảo sát nghiên cứu về các nội dung nhằm giáo dục cho sinh viên Vĩnh Long biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam như: Giáo dục việc giữ gìn và phát huy lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc; Giáo dục việc giữ gìn, phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - xã, ấp - Tổ quốc; Giáo dục việc giữ gìn và phát huy lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lí. Trên cơ sở đó, thảo luận đề xuất một số giải pháp giáo dục cho sinh viên biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,365
Bài viết trình bày tổng quan về hoạt động kiểm định chất lượng cấp chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả phân tích kết quả kiểm định từ các tiêu chuẩn liên quan đến dạy và học của 20 chương trình đào tạo đã được kiểm định bao gồm: 1/ Thực hiện hoạt động kiểm định chất lượng chương trình đào tạo tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; 2/ Các tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động dạy học trong bộ tiêu chuẩn AUN-QA; 3/ Các hoạt động cải tiến chất lượng giảng dạy sau khiểm định chất lượng các chương trình đào tạo. Từ đó, bài báo đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,635
Năng suất công bố khoa học giáo dục từ các cơ sở giáo dục Việt Nam tăng trưởng nhanh trong thời gian gần đây. Bài báo tập trung phác họa bức tranh nghiên cứu khoa học giáo dục từ Việt Nam năm 2021. 158 tài liệu chỉ mục từ cơ sở dữ liệu Web of Science được tham chiếu. Các phương pháp phân tích trắc lượng thư mục khoa học được áp dụng. Kết quả cho thấy, bài báo là dạng tài liệu chính mà các cơ sở giáo dục ở Việt Nam công bố. Các tác giả từ Việt Nam hợp tác nghiên cứu với 28 quốc gia trên thế giới, trong đó Úc là quốc gia hợp tác chủ đạo. Bên cạnh đó, các tác giả người Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong phần lớn các công bố về khoa học giáo dục. Ngoài ra, 09 chủ đề nghiên cứu được xác định, trong đó COVID-19 là bối cảnh nghiên cứu của 02 chủ đề, bao gồm học tập trực tuyến và sự hài lòng của phụ huynh trong đại dịch.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,151
Giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng cho sinh viên là một hoạt động rộng lớn và phức tạp. Nếu chỉ qua một hoặc một số môn trong chương trình đào tạo thì chưa đủ. Do đó, hoạt động này cần được tích hợp rộng rãi trong nhiều môn học, trong nhiều hoạt động và phải được diễn ra thường xuyên, liên tục trong cả quá trình đào tạo, từ lúc sinh viên bước chân vào giảng đường sư phạm cho đến khi tốt nghiệp ra trường. Quá trình tích hợp này chúng tôi gọi chung là hoạt động đào tạo.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,333
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên và giữ vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, giáo viên mầm non phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Hình thành năng lực nghề trong đó có năng lực xây dựng môi trường vui chơi cho trẻ của sinh viên sư phạm mầm non đã đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học hiện nay. Bài viết đưa ra những khái niệm cơ bản, thực trạng, biện pháp về hình thành năng lực xây dựng môi trường vui chơi cho trẻ mẫu giáo của sinh viên sư phạm mầm non Trường Đại học Thủ đô Hà Nội qua hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm với mục đích góp phần cải tiến thực tiễn tổ chức các hoạt động giáo dục mầm non một cách có hệ thống nói chung và trang bị hệ thống rèn luyện kĩ năng nghề nói riêng cho sinh viên. Kết quả nghiên cứu góp phần thống nhất, cân bằng giữa lí thuyết và thực hành giúp sinh viên định hướng trước được nghề nghiệp trong tương lai và thích ứng nhanh với những biến đổi của xã hội.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,669
Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non là một bộ phận quan trọng của Giáo dục Mầm non. Nó ra đời và phát triển ở nước ta vào những năm 70 của thế kỉ trước. Chúng ta đã có những công trình nghiên cứu đầu tiên về ngôn ngữ trên trẻ em Việt Nam và những nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu phát triển ngôn ngữ trẻ em mầm non. Kết quả, chúng ta tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến khả năng đọc viết nội dung phát triển ngôn ngữ lứa tuổi mầm non và một số biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng đọc - viết ban đầu cho trẻ mẫu giáo phù hợp để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ một cách hiệu quả như đọc sách tranh, phát triển khả năng viết, tạo môi trường chữ viết, góc thư viện, góc viết, tạo hứng thú đọc và tạo cho trẻ có kiến thức nền về câu chuyện qua tổ chức hoạt động kể cho trẻ nghe truyện.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,682
Gia đình và giáo viên có vai trò lớn trong việc hỗ trợ học sinh học tập trực tuyến. Hỗ trợ tinh thần của phụ huynh quan trọng đối với hầu hết các thái độ và thể hiện mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả bản thân của học sinh, các hình thức hỗ trợ tinh thần được cho là có lợi nhất là khi cha mẹ khuyến khích con cái họ tự tin và khi họ ủng hộ những nỗ lực và thành tích học tập của con cái. Về phía giáo viên, môi trường giáo dục là nơi giáo viên có thể truyền tải sự nhiệt tình đối với nội dung giảng dạy của họ sẽ hỗ trợ sự phát triển thái độ học tập tích cực ở học sinh, cụ thể là các mục tiêu học tập để hoàn thành nhiệm vụ, hiệu quả bản thân và thích đọc sách. Sự nhiệt tình của giáo viên có tầm quan trọng thúc đẩy quá trình học tập của học sinh. Điều quan trọng là Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia hiệu quả của phụ huynh. Nếu họ đang đi làm có thể được phép “nghỉ có lương”, được Nhà nước hỗ trợ bằng 70% thu nhập của họ. Cung cấp thông tin cho phụ huynh về cách hỗ trợ hiệu quả việc học tập của con em họ cũng có thể cải thiện kết quả giáo dục, cả trong thời gian học tập trực tuyến và trong thời gian bình thường. Giáo viên cũng cần được hỗ trợ để nhanh chóng thích nghi thực hành giảng dạy của họ với đào tạo từ xa, cho dù là thường xuyên hay đột xuất. Vì vậy, cha mẹ và giáo viên đóng vai trò cơ bản trong việc hỗ trợ học sinh phát triển những thái độ quan trọng này, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, các chính sách can thiệp cần được thiết kế với mục tiêu giảm gánh nặng cho phụ huynh, giúp giáo viên và nhà trường tận dụng tối đa phương pháp học tập kĩ thuật số trong học tập trực tuyến.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,656
Sự gắn kết của sinh viên với nhà trường đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp tạo ra các động lực, đem lại cảm giác thuộc về, thúc đẩy quá trình từ đó nâng cao kết quả học tập. Bài viết trình bày 3 nhóm mức độ gắn kết: nhận thức, tình cảm, hành vi được nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội với sự tham gia của 222 sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự gắn kết chặt chẽ giữa sinh viên với nhà trường. Từ đây, việc đề xuất các hoạt động là điều cần thiết để gia tăng mức độ gắn kết trong nhà trường.
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,531
Ngôn ngữ mạch lạc là một trong những nội dung giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi quan trọng ở trường mầm non, giúp trẻ phát triển toàn diện và đặc biệt là làm tiền đề tạo lập văn bản ở dạng viết cho cấp học tiếp theo. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ cần được thực hiện thường xuyên, lồng ghép vào các hoạt động khác nhau ở trường mầm non, nhất là trong hoạt động trải nghiệm. Bài báo tập trung làm rõ thực trạng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động trải nghiệm tại các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức quá trình này ở trường mầm non
Số: /2022
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,775
Bài viết bàn về biện pháp giáo dục lí tưởng cách mạng đạo đức lối sống cho học sinh phổ thông. Trong bài, tác giả làm rõ: Tầm quan trọng của giáo dục lí tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh trong bối cảnh hiện nay; Biện pháp giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống cho học sinh phổ thông, bao gồm: 1/ Nâng cao năng lực nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của việc giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống cho học sinh; 2/ Kế hoạch hoá công tác giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống cho học sinh; 3/ Tổ chức, chỉ đạo công tác giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống cho học sinh; 4/ Đa dạng hoá các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và giáo dục ngoài giờ lên lớp trong giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh; 5/ Cụ thể hóa tiêu chuẩn đánh giá đạo đức, lối sống của học sinh; 6/ Xây dựng chế độ khen thưởng và kỉ luật.

