Danh sách bài viết

Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,538
Việc xuất hiện khái niệm Xác suất có điều kiện ở lớp 12 trở thành một trong những điểm mới quan trọng trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 2018. Điều này đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị ý tưởng cho thiết kế tình huống dạy học để soạn thảo kế hoạch bài dạy Xác suất có điều kiện. Mặt khác, việc đánh giá tính hiệu quả của tình huống dạy học cần phải được thực hiện để có thể điều chỉnh và cải tiến nó được hoàn thiện hơn. Bài viết trình bày: Thực nghiệm thứ nhất về tình huống dạy học Xác suất có điều kiện để hình thành khái niệm Xác suất có điều kiện và kĩ năng giải quyết bài toán liên quan Xác suất có điều kiện ở học sinh; Thực nghiệm thứ hai về đánh giá mức độ đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng của học sinh theo Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 2018.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,280
Để dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, một trong những kĩ năng cần có của mỗi giáo viên là kĩ năng thiết kế câu hỏi kiểm tra, đánh giá theo hướng này. Đặc biệt, mỗi sinh viên sư phạm cần được rèn luyện kĩ năng thiết kế câu hỏi kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Trong bài viết này, dựa trên các kết quả nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh và quy trình rèn luyện kĩ năng, chúng tôi đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng thiết kế câu hỏi kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh cho sinh viên Sư phạm Toán.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 992
Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, việc quản lí chất lượng đào tạo giáo viên theo tiếp cận AUN-QA là nội dung rất quan trọng và cần thiết đối với các cơ sở giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học ở các trường/ khoa đại học sư phạm hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Bài viết tập trung phân tích và đánh giá thực trạng quản lí chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học theo tiếp cận AUN-QA ở các trường/khoa đại học sư phạm giai đoạn 2017 - 2021, từ đó đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao và đổi mới chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,954
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm điều tra các vấn đề gặp phải của sinh viên chuyên Anh tại Trường Đại học Vinh khi theo học môn Biên dịch. Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia của 54 sinh viên chuyên Anh năm thứ ba tại Trường Đại học Vinh. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi thiết kế theo thang Likert ba bậc, bài kiểm tra dịch và phỏng vấn nhóm. Sau khi phân tích các số liệu và ngữ liệu thu thập được, kết quả cho thấy khó khăn trong việc phát triển kĩ năng biên dịch của sinh viên xuất phát từ ba yếu tố: Hạn chế về kiến thức nền, sự khác biệt ngôn ngữ giữa tiếng Anh, tiếng Việt và hạn chế về kiến thức ngữ pháp. Từ những kết quả nghiên cứu, bài báo đưa ra các đề xuất kiến nghị để hỗ trợ tăng cường chất lượng giảng dạy nhằm nâng cao kĩ năng biên dịch cho sinh viên tại Trường Đại học Vinh nói riêng và cho những người học tiếng Anh nói chung.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,556
Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược là một trong những phương pháp dạy học hiện đại nhằm khắc phục nhiều hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống cũng như đáp ứng được những yêu cầu đổi mới về giáo dục trong thời đại ngày nay. Nguyên tắc chung của phương pháp này là lấy người học làm trung tâm: Học sinh sẽ tự sắp xếp thời gian để tự tìm hiểu nội dung bài học qua mạng (Thông thường, giáo viên sẽ cung cấp học liệu, bài giảng trên nền tảng trực tuyến), sau đó trên lớp là thời gian để giáo viên và học sinh cùng tương tác, thảo luận và khắc sâu kiến thức. Bài báo nghiên cứu thiết kế quy trình chung và quy trình thiết kế 01 kế hoạch bài dạy vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học kết hợp (trực tiếp kết hợp trực tuyến) môn Hóa học ở trường trung học phổ thông.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,603
Trị liệu nghệ thuật là một hướng tiếp cận hiệu quả trong tham vấn, trị liệu tâm lí cho trẻ bị lạm dụng tình dục. Ở Việt Nam, vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách bài bản và có định hướng rõ ràng. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu khám phá và phân tích các biểu hiện tổn thương tâm lí của trẻ bị lạm dụng tình dục thông qua hoạt động vẽ tranh. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp và kĩ thuật phân tích tâm lí qua tranh vẽ trên 5 khách thể là trẻ bị lạm dụng tình dục từ 9 đến 14 tuổi. Kết quả cho thấy, các bức tranh mà trẻ vẽ nên phản ánh các biểu hiện tổn thương tâm lí do bị lạm dụng tình dục của trẻ em Việt Nam là: Suy nghĩ ám ảnh, lòng tự trọng thấp, mặc cảm tội lỗi, trầm cảm, phân li, cảm giác thất vọng, cảm thấy bối rối/lúng túng trong mọi việc và cô đơn. Đây là những minh chứng thực hành quan trọng để thúc đẩy và phát triển công tác tham vấn, trị liệu tâm lí cho nhóm đối tượng trẻ em này ở Việt Nam.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,372
Đánh giá việc thực hiện kế hoạch chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non đảm bảo yêu cầu bình đẳng giới và phù hợp thực tiễn địa phương là một việc làm quan trọng và cần thiết trong trường mầm non, bao gồm những nội dung sau: Đánh giá việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch và kết quả thực hiện kế hoạch chăm sóc - giáo dục đảm bảo yêu cầu bình đẳng giới và phù hợp thực tiễn địa phương với các phương pháp đánh giá chủ yếu như: Phân tích các loại kế hoạch giáo dục (năm, tháng, tuần, hàng ngày) theo độ tuổi, theo chủ đề, theo hoạt động của trường, nhóm, lớp; Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên và của trẻ; Quan sát biểu hiện của trẻ; Trao đổi với cha mẹ của trẻ; Trò chuyện với trẻ và sử dụng bài tập đo. Trên cơ sở kết quả đánh giá, đưa ra điều chỉnh hoặc bổ sung nhằm khắc phục những điều chưa đạt được, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,272
Mô hình giáo dục STEM là mô hình giáo dục trong đó học sinh được vận dụng tích hợp kiến thức các lĩnh vực như: Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào một vấn đề cụ thể của thực tiễn cần giải quyết, qua đó năng lực của học sinh được phát triển. Thông qua giải quyết vấn đề của chủ đề STEM trong các bài học, học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học nhằm phát triển các năng lực cần thiết cho bản thân. Nghiên cứu này đề xuất hoạt động tổ chức dạy học chủ đề “Sản xuất nước Giaven” theo mô hình giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực năng lực tự học cho học sinh ở trường phổ thông. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Trung học phổ thông Xuân Mai cho thấy, tính khả thi của mô hình giáo dục STEM trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,005
Đến nay, còn có nhiều cách hiểu về chuẩn trong xây dựng Chương trình Giáo dục phổ thông, vì có nhiều cách tiếp cận khác nhau như từ bình diện: Xây dựng chuẩn đầu ra hay đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lí dạy và học theo chuẩn... Vì thế, cũng có nhiều cách tiếp cận về xây dựng chuẩn như: Phục vụ cho đánh giá tổng kết hay dạy và học theo chuẩn... Bài viết này làm rõ cách tiếp cận xây dựng chuẩn trong Chương trình Giáo dục phổ thông từ bình diện dạy học theo chuẩn ở Việt Nam. Theo đó, chuẩn là sự cụ thể hoá các yêu cầu cần đạt, giúp người đọc hiểu được chiều sâu của chương trình đó cũng như hình dung được vùng phát triển gần nhất của học sinh được mô tả thông qua các mức độ cần đạt. Trên cơ sở đó, minh hoạ chuẩn trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán ban hành năm 2018. Vì thế, chuẩn hỗ trợ thẩm định cũng như chọn lựa sách giáo khoa trong bối cảnh một chương trình và có nhiều bộ sách giáo khoa; giúp chỉ đạo dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn. Đặc biệt, chuẩn không chỉ hỗ trợ đánh giá tổng kết mà còn giúp đánh giá thường xuyên, vì người dạy và người học đều biết rõ yêu cầu cần đạt với từng đơn vị kiến thức (hay chủ đề/bài học) trong Chương trình, góp phần tránh được hiện tượng người học “ngồi nhầm lớp”.
Số: /2022 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,124
Bảng xếp hạng đại học THE Impact (Times Higher Education Impact Ranking) là bảng xếp hạng đại học mới được ra đời từ năm 2019 do THE công bố. Bảng xếp hạng hướng tới mục tiêu đánh giá những đóng góp của các trường đại học cho cộng đồng theo các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Đến năm 2021, Bảng xếp hạng THE Impact đã kêu gọi được sự tham gia của hơn 1000 trường đại học trên thế giới. Trong bài viết này, tác giả khảo sát sự hiện diện của các trường đại học tại khu vực Đông Nam Á, bao gồm các nước: Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Phillipines, Việt Nam và Campuchia tại bảng xếp hạng này trong giai đoạn 2019-2021. Kết quả cho thấy, bảng xếp hạng này đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của các trường đại học tại Đông Nam Á. Mặc dù vậy, trong các đại học thuộc khu vực tham gia vào bảng xếp hạng này, chỉ có rất ít các đại học có thứ hạng cao từ bảng xếp hạng đại học THE truyền thống. Bài viết đưa ra bức tranh sơ bộ về kết quả tham gia bảng xếp hạng THE Impact của các trường đại học Đông Nam Á, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách, các trường đại học và bản thân bảng xếp hạng THE Impact.