Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 774
Chương trình Giáo dục phổ thông mới đặt ra những yêu cầu đổi mới thư viện trường học: Đổi mới cơ sở vật chất theo hướng tăng cường thiết bị và thay đổi cấu trúc loại sách và tài liệu; Đổi mới hoạt động ở thư viện theo hướng tạo không gian học tập mới để học sinh tự học có hướng dẫn và học theo sở trường. Để thực hiện đổi mới thư viện trường học, cần có sự tham gia của cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên, cha mẹ học sinh và cộng đồng.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,431
Trong Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, môn Khoa học tự nhiên là môn học tích hợp, được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học vật lí, hoá học, sinh học và khoa học Trái Đất. So với chương trình hiện hành, đây là một môn học mới với nhiều điểm mới trong cách tiếp cận và nội dung. Bài báo phân tích và so sánh một số nét cơ bản về thời lượng, nội dung, chuẩn kiến thức kĩ năng với yêu cầu cần đạt của chủ đề “Chất và sự biến đổi của chất” - Chương trình môn Khoa học tự nhiên với Chương trình môn Hoá học cấp Trung học cơ sở năm 2006. Qua đó, giúp người đọc có cái nhìn khái quát hơn, rõ ràng hơn về môn Khoa học tự nhiên nói chung, chủ đề “Chất và sự biến đổi của chất” nói riêng
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,086
Chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân ở Pháp là một trong những môn học được coi trọng nhằm đào tạo thế hệ tương lai không chỉ có những năng lực cần thiết mà còn giúp các em hình thành tư duy phản biện, có ý thức về đạo đức, thấu hiểu, tôn trọng và chia sẻ các giá trị nhân văn như tình cảm gia đình, ý thức trách nhiệm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn sách giáo khoa cấp Tiểu học của Nhà Xuất bản Bordas (2017) để khảo sát, giới thiệu về nội dung, cấu trúc và các yếu tố lịch sử, văn hóa được thể hiện qua các bài học. Thông qua đó đưa ra những nhận xét, đề xuất cho việc xây dựng, thiết kế sách giáo khoa môn Đạo đức ở Việt Nam theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,050
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trung tâm là sự phát triển bao gồm các hệ thống thực ảo (Cyber -Phisical Systems CPS) mạng lưới Internet kết nối vạn vật (Internet of things - IoT), điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo,... Tiếp cận nghiên cứu trên dưới sự tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với lĩnh vực giáo dục đại học, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học hiện nay
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 852
Dạy học sinh cách học, cách nghĩ, cách làm tiến tới dạy học sinh biết cách tự học là một xu thế của giáo dục Việt Nam hiện nay. Dạy học theo hướng giúp học sinh tự học có hướng dẫn là hình thức dạy học đáp ứng được xu thế đó. Bài viết này trình bày một số kĩ năng nghề nghiệp cần chuẩn bị cho sinh viên Sư phạm Toán để dạy học Toán theo hướng giúp học sinh tự học có hướng dẫn.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,081
Với mục tiêu “Giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức”, hoạt động quản lí chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo tiếp cận đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á cần được cải cách cơ bản và sâu sắc, hướng đến mô hình của các nước đang phát triển nhưng vẫn phải đáp ứng các đặc thù của xã hội và nền giáo dục đại học Việt Nam. Bài viết đánh giá thực trạng quản lí chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo tiếp cận AUN-QA của 5 cơ sở đào tạo. Việc quản lí chương trình đào tạo đã đạt được những kết quả khả quan như chuẩn đầu ra được xây dựng tương thích với tầm nhìn và sứ mạng của nhà trường, việc giám sát, đánh giá việc triển khai mục đích giáo dục, vai trò của người dạy và người học được thực hiện nhất quán, việc đánh giá hệ thống giám sát sự tiến bộ của người học, kết quả và khối lượng học tập của người học được triển khai hiệu quả... Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế, cần đề xuất các biện pháp khắc phục như các nội dung trong quản lí và phát triển chuyên môn của cán bộ giảng dạy và hỗ trợ, các nội dung trong việc quản lí kiểm tra đánh giá học tập chưa được thực hiện tốt, ....
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,011
Giáo dục thông minh là sự chuyển đổi từ giáo dục truyền thống sang nền tảng giáo dục mới, thể hiện trên năm thành tố có tính tương tác cao: (1) Tính tự chủ, tự định hướng (Self-directed); (2) Có động lực học tập (Motivated); (3) Sự thích ứng (Adaptive); (4) Giàu hóa tài nguyên (Resource-enriched); (5) Tích hợp công nghệ (Technology). Giáo dục thông minh hướng tới mục đích đổi mới phương pháp giáo dục thể hiện trong một môi trường giáo dục được hỗ trợ bởi công nghệ, tạo ra sự thích ứng và đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0. Các nghiên cứu về trường học thông minh xác định những đặc điểm chung của trường học thông minh hoặc đi sâu vào các thành tố của trường học thông minh như mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giá, …Việc nghiên cứu xác định các “mức độ thông minh” làm cơ sở cho việc xây dựng, phát triển trường học thông minh. Bài viết này thảo luận về các đặc điểm chính của giáo dục thông minh và môi trường học tập thông minh, trường học thông minh trên cách nhìn tổng thể mang tính cấu trúc, đặc biệt sẽ chỉ ra các yếu tố liên quan, thống nhất để xây dựng trường học thông minh.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,055
Trong những năm vừa qua, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã xác định “Chiến lược phát triển kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn hàng đầu của cả nước”. Do vậy, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực hàng hải được đào tạo với chất lượng cao. Bài viết chỉ ra những thách thức, cơ hội mà Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại đối với giáo dục - đào tạo ở nước ta; những thực trạng chung và nhu cầu về nhân lực hàng hải chất lượng cao ở Việt Nam; trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực hàng hải Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Như vậy, việc nâng cao chất lượng nhân lực hàng hải trở nên cấp thiết và quan trọng, đó là công việc có tính chất quyết định đến sự tồn tại, phát triển của ngành Hàng hải, phát triển kinh tế biển Việt Nam từ nay đến năm 2025 và lâu hơn nữa. Đồng thời, thông qua việc “nâng cao chất lượng nhân lực hàng hải” sẽ góp phần tích cực vào việc “hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị quan trọng trước mắt cũng như lâu dài về bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo… trước những thế lực thù địch liên tục gây hấn và lăm le xâm lấn chủ quyền biển đảo trên Biển Đông của Việt Nam”.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,246
Bài viết làm rõ tiến trình dạy học Lượng giác ở cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trong chương trình môn Toán hiện hành thông qua việc phân tích những ưu điểm và hạn chế của bốn giai đoạn dạy học Lượng giác của chương trình môn Toán phổ thông hiện nay.Trên cơ sở đó, đã chỉ ra một số điểm cần chú ý trong dạy học nội dung Lượng giác chương trình môn Toán mới.Trước hết là thống nhất cùng một quan điểm xây dựng hàm số lượng giác, xuyên suốt từ giá trị lượng giác của góc đến hàm số lượng giác biến số thực; Hai là, bổ sung các khái niệm góc (cung) đối nhau, góc (cung) bù nhau, góc (cung) phụ nhau, góc (cung) hơn kém nhau π và tổng, hiệu của góc (cung) lượng giác trước khi xây dựng các công thức biến đổi; Ba là, tăng cường cách tiếp cận trực quan khi dạy học các nội dung lượng giác như: Tập xác định của các hàm y=tanx và hàm y=cotx, phương trình lượng giác cơ bản: sinx=a, cosx=a, tanx=a, cotx=a; Bốn là, tăng cường gắn kết các nội dung dạy học lượng giác với những vấn đề thực tiễn như: Đo đạc, tính toán, các chuyển động trong Vật lí,... Cách tiếp cận này sẽ tăng cường hiệu quả và chất lượng dạy học nội dung lượng giác của chương trình Toán phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,358
Can thiệp rối loạn phổ tự kỉ dựa vào cộng đồng là một mô hình can thiệp nhằm đem lại cơ hội về hòa nhập xã hội một cách bình đẳng cho tất cả trẻ em và người tự kỉ tại chính nơi mà họ sinh sống. Can thiệp được thực hiện dựa trên việc kết hợp những nguồn nhân lực và vật lực có sẵn tại chính gia đình trẻ và ngay trong môi trường sinh hoạt, học tập của trẻ. Bệnh viện Nhi đã xây dựng một quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng và đã từng bước áp dụng có hiệu quả. Quy trình gồm các bước: (1) Đánh giá phân loại; (2) Đào tạo cho cha mẹ/người chăm sóc; (3) Can thiệp tại các tuyến cơ sở theo ba hình thức: Trung tâm can thiệp sớm, trường mầm non kết hợp can thiệp cá nhân, gia đình; (4) Đánh giá định kì. Các hoạt động can thiệp lấy trẻ và gia đình làm trung tâm, có sự tham gia của nhóm chuyên gia đa ngành: cán bộ y tế, cán bộ tâm lí, giáo viên giáo dục đặc biệt, các nhà trị liệu chuyên sâu và sử dụng các phương pháp can thiệp dựa trên bằng chứng... Cần thiết có sự phối hợp tích cực giữa các bộ, ngành để tạo điều kiện cho quy trình được thực hiện thống nhất, phổ biến rộng rãi ở cộng đồng.

