Danh sách bài viết

Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 755
Tìm hiểu mối liên hệ của học sinh với môi trường học đường và việc học của các em là một khía cạnh đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Kết quả nghiên cứu được thực hiện trên 673 học sinh trường trung học cơ sở tại Hà Nội ở những khía cạnh về: Việc huy động các nguồn lực con người cũng như vật chất trong việc học ở trường; quan niệm về tầm quan trọng của thành tích học tập ở trường và việc hoàn thành bài tập về nhà; giữa tỉ lệ bài tập về nhà được hoàn thành và bằng cấp học sinh mong muốn đạt được. Qua đó, việc giao bài tập về nhà giúp học sinh đào sâu và nâng cao kiến thức đã học, hiểu hơn ý nghĩa và giá trị của việc học.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,269
Bài viết đề cập đến vấn đề giáo dục gia đình luôn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, nâng cao trí lực, hình thành và phát triển nhân cách cho nguồn nhân lực. Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, chức năng giáo dục của gia đình Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ, tác động đa chiều đến việc phát triển nguồn nhân lực. Do đó, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ vai trò giáo dục của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa thiết thực, nhằm tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cả về thể lực, trí lực và nhân cách.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,084
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA khảo sát năng lực Đọc hiểu, Toán và Khoa học của học sinh trong độ tuổi 15, nhằm kiểm tra mức độ chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này cho học sinh ở độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc. Qua hai kì tham gia PISA năm 2012 và 2015, mặc dù được xếp hạng cao nhưng lĩnh vực Khoa học là lĩnh vực học sinh Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Vật lí là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Theo đó, việc dạy học Vật lí có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tư duy, khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Bài viết đề cập đến việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo tiếp cận PISA trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông. Theo tác giả, để tổ chức dạy học theo hướng trên, đòi hỏi người giáo viên phải tìm kiếm, sáng tạo các nội dung dạy học, cụ thể là các tình huống thực tiễn gắn với nội dung kiến thức cần dạy, với những vấn đề xã hội quan tâm, tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú, thực hiện một cách toàn diện từ đổi mới phương pháp dạy học đến cách kiểm tra đánh giá.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,203
Bài viết phân tích về khái niệm trí thông minh logic - Toán học, những biểu hiện về khả năng lĩnh hội và giải quyết các vấn đề toán học của đối tượng học sinh có dạng trí thông minh logic - Toán học nổi trội. Có nhiều biện pháp để rèn luyện và phát triển năng lực toán học vốn có cho học sinh, bài viết đưa ra một số biện pháp như: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng thuần thục các thao tác tư duy cơ bản; Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng công cụ Đại số vào giải quyết một số vấn đề Hình học; Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng công cụ Hình học để giải quyết một số bài toán Đại số. Từ đó, học sinh được rèn luyện tính linh hoạt, mềm dẻo trong tư duy giải quyết các vấn đề Toán học - nét nổi bật của học sinh có trí thông minh logic - Toán nổi trội
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,626
Việc nghiên cứu đặt giả thuyết khoa học cho đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn, giúp cho việc nghiên cứu thành công. Bài viết đề cập đến khái niệm và đặc trưng của giả thuyết khoa học, vai trò của giả thuyết khoa học trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, các loại giả thuyết khoa học, cách đặt giả thuyết khoa học, việc kiểm chứng giả thuyết và những lỗi thường gặp khi đặt giả thuyết trong các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực đặt giả thuyết khoa học cho chủ thể nghiên cứu đề tài khoa học.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,112
Bài viết phân tích mô hình thực nghiệm giáo dục và định hướng phát triển mô hình Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Theo đó, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam là một hệ thống gồm các cấp: Tiểu học,Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Mỗi đơn vị trường học có bề dày lịch sử phát triển riêng trong sự thống nhất của đặc trưng Trường Thực Nghiệm. Sự tồn tại của Trường Thực Nghiệm những năm qua đã thể hiện vai trò và sứ mệnh của nó trong một giai đoạn lịch sử. Trường cần có định hướng phát triển mới trên cơ sở đặc điểm nhà Trường Thực Nghiệm đáp ứng xu thế đổi mới của giáo dục Việt Nam. Với đặc thù của một mô hình nhà trường thí điểm các vấn đề đổi mới của ngành và bắt kịp nhu cầu của thời đại, Trường Thực Nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ khẳng định được và vai trò của mình trong thời gian tới.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,230
Bài viết này đề cập đến vấn đề giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm cho trẻ mầm non dưới góc độ phân tích một số vấn đề lí luận có liên quan như: Các khái niệm, mục đích, phân loại, phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ và phân tích xu hướng thế giới trong giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm (thông qua việc xác định cơ sở lí luận và chương trình giáo dục mầm non của một số nước) nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm. Qua đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,305
Bài viết trình bày khung và các tiêu chí, chỉ báo phân tích chất lượng của hệ thống giáo dục dựa trên các nhân tố ảnh hưởng. Khung và tiêu chí phân tích chất lượng của hệ thống giáo dục bao gồm:1/ Kết quả đầu ra mong đợi của hệ thống giáo dục;2/ Kết quả đạt được; 3/ Hoạt động giáo dục; 4/ Đầu vào. Theo đó, chất lượng của hệ thống giáo dục được đánh giá dựa trên kết quả giáo dục đạt được so với kết quả đầu ra mong muốn đáp ứng nhu cầu xã hội của hệ thống giáo dục. Các tiêu chí, chỉ báo về chất lượng hoạt động giáo dục được xem là nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu về chất lượng của hệ thống giáo dục. Các tiêu chí và chỉ báo này cũng chính là căn cứ để phát triển chính sách, chiến lược, cơ chế... để phát huy thế mạnh nhằm khắc phục các hạn chế và nguyên nhân liên quan đến chất lượng của hệ thống giáo dục.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 898
Bài viết phân tích thực trạng năng lực sử dụng các phương pháp, phương tiện giáo dục gia đình tác động tới con thông qua tổ chức các hoạt động và tương tác của gia đình. Nghiên cứu được thực hiện trên 1000 cặp cha, mẹ - con ở độ tuổi thiếu niên đang học ở 5 trường trung học cơ sở: Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An, Nhật Tân, Cổ Nhuế II thuộc 3 quận nội thành: Quận Cầu Giấy, Quận Tây Hồ, Quận Bắc Từ Liêm của Thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực này của cha mẹ còn ở mức thấp, tiệm cận với mức trung bình. Sự khác biệt về mức độ năng lực này ở các cha mẹ có độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng các phương pháp, phương tiện giáo dục gia đình tác động tới con thông qua tổ chức các hoạt động và tương tác gia đình của cha mẹ.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 920
Sự hạn chế về kĩ năng tương tác xã hội của trẻ điếc chính là rào cản đối với khả năng hòa nhập, thích ứng xã hội của trẻ. Việc tăng cường hiệu quả tương tác xã hội cho trẻ điếc ở lứa tuổi mầm non sẽ giúp trẻ chủ động trong sử dụng ngôn ngữ và các phương thức biểu đạt và tiếp nhận thông tin trong bối cảnh giao tiếp, giúp cho sự phát triển và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ. Bài viết đề cập đến: Một số khái niệm liên quan đến khiếm thính, điếc và tương tác xã hội; Đặc điểm nhu cầu sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trong tương tác xã hội của trẻ điếc; Một số lưu ý đảm bảo tăng cường hiệu quả trong tương tác xã hội của trẻ điếc, trong đó nhấn mạnh đến khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, sử dụng phương thức giao tiếp tổng hợp và thích ứng với nhu cầu giao tiếp thị giác để tạo một môi trường thân thiện, không áp lực, không có sự phân biệt loại hình ngôn ngữ với trẻ điếc.