Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 923
Bài viết tập trung phân tích: Nguồn gốc, quá trình phát triển và các đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0); Vai trò và sứ mạng của các trường đại học khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế tri thức và xã hội hiện đại. Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá những đặc điểm, cấu trúc của đội ngũ nhân lực trong các giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia. Theo tác giả bài viết, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với xu hướng chủ đạo là “số hóa” và dựa trên những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang làm thay đổi nhanh chóng mọi diện mạo của đời sống kinh tế, xã hội của các quốc gia.Trong tiến trình đó, vai trò, vị thế của các trường đại học nói chung và các trường đại học khoa học và công nghệ nói riêng trong đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao ngày càng được đề cao để thực sự trở thành đầu tàu cho quá trình phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,146
Trong bối cảnh các trường đại học ở Việt Nam ngày càng nhiều và đa dạng, sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học ngày càng tăng, chính sách thu hút học sinh, sinh viên, nhất là những thí sinh có chất lượng đến học tại trường, là một trong những chiến lược, chính sách được ưu tiên hàng đầu, quyết định sự phát triển của nhà trường. Các trường đại học hiện nay cần có các chính sách thu hút sinh viên như: Chính sách nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu; Chính sách nhân lực giảng dạy; Chính sách quản lí đào tạo theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; Chính sách học phí, học bổng; Chính sách truyền thông quảng bá hình ảnh. Để nâng cao hiệu quả những chính sách này, các trường cần thực hiện một số giải pháp sau: Nâng cao chất lượng đào tạo đồng thời tăng tính hấp dẫn, tạo dựng danh tiếng của trường; Nâng cao hiệu quả của công tác quảng cáo, truyền bá về các ngành học và hình ảnh của trường; Tiếp tục duy trì và mở rộng chính sách học bổng cùng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo; Thành lập trung tâm hướng nghiệp và tư vấn việc làm.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,228
Đội ngũ giáo viên dạy nghề, đặc biệt là giáo viên dạy thực hành đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, người giáo viên thực hành cần có đầy đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ; năng lực sư phạm dạy nghề nhằm đảm bảo được chất lượng đầu ra trong cơ sở dạy nghề nói chung, các trường cao đẳng nghề nói riêng. Bài viết đề cập đến yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên thực hành ở trường cao đẳng nghề trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,037
Phương pháp tình huống và phương pháp đóng vai là hai phương pháp dạy học tích cực, luôn được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay, việc vận dụng kết hợp hai phương pháp này trong dạy học môn Giáo dục công dân ở cấp học Trung học phổ thông chưa được quan tâm nghiên cứu, triển khai một cách sâu rộng trong quá trình tổ chức dạy học. Việc nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp này trong dạy học môn Giáo dục công dân không những có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong thực tiễn, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu môn học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 910
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGHIỆP VỤ HÀNH CHÍNH GIÁO DỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bài viết phân tích thực trạng quản lí chất lượng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ hành chính giáo dục tại các trường mầm non, phổ thông, phòng giáo dục và đào tạo, trường cao đẳng và đại học tại TP. Hồ Chí Minh thông qua công tác xây dựng kế hoạch; công tác tổ chức; công tác lãnh đạo; công tác kiểm tra. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bài viết góp phần xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lí chất lượng nguồn nhân lực hỗ trợ hoạt động quản lí giáo dục, phục vụ đổi mới giáo dục và quản lí giáo dục hiện nay
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,119
Ca dao vốn là thể loại văn học dân gian mang đặc trưng diễn xướng. Ca dao được sáng tác chủ yếu để hát, để ngâm, để hò, để ru, để thực hành nghi lễ... Khắp ba miền Bắc - Trung - Nam trên đất nước Việt Nam, đâu đâu cũng có làn điệu dân ca đặc trưng, độc đáo...Ca dao có mối liên hệ chặt chẽ với dân ca, trong đó có Quan họ. Việc dạy học ca dao ở trung học phổ thông tích hợp với Quan họ là một giải pháp có ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, học sinh được nâng cao vốn văn hóa truyền thống quê hương. Thứ hai, học sinh được hình thành và phát triển toàn diện về tri thức, đạo đức, năng lực đặc biệt là năng lực cảm thụ ca dao - Quan họ. Thứ ba, học sinh được phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật kịp thời. Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, bài viết đề xuất hai hình thức dạy học cơ bản: tìm ca dao trong Quan họ và hát Quan họ từ ca dao. Những hình thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,160
Ở Việt Nam, công tác tư vấn tâm lí cho học sinh phổ thông được ngành Giáo dục và Đào tạo quan tâm từ hơn 10 năm qua. Công tác tư vấn tâm lí giúp học sinh giải quyết khó khăn, vướng mắc, giải tỏa căng thẳng tâm lí, cảm xúc. Giáo viên nói chung, giáo viên chủ nhiệm nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công nhiệm vụ tư vấn tâm lí. Từ đó, giáo viên chủ nhiệm cần có một số kĩ năng tư vấn tâm lí cơ bản sau: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng xử lí thông tin; Kĩ năng thấu hiểu học sinh; Kĩ năng phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường; Kĩ năng hỗ trợ tìm kiếm giải pháp; Kĩ năng đánh giá. Giáo viên thực hiện tốt công tác tư vấn tâm lí cho học sinh sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách của các em và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các nhà trường.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 713
Bài viết phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong các trường trung học phổ thông công lập ở tỉnh Bắc Ninh. Dựa trên kết quả khảo sát 326 cán bộ quản lí và giáo viên ở các trường trung học phổ thông của tỉnh Bắc Ninh cho thấy những năng lực lãnh đạo được đánh giá cao nhất là: Xây dựng kế hoạch lãnh đạo đơn vị; Giao tiếp trong quản lí lãnh đạo đơn vị; Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lí lãnh đạo đơn vị. Những năng lực có mức độ đánh giá thấp nhất là: Năng lực sử dụng tiếng nước ngoài; Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục, quản lí giáo dục; Năng lực sử dụng công nghệ thông tin. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích các nguyên nhân của thực trạng để làm cơ sở định hướng giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo cho nữ cán bộ trường trung học phổ thông.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 886
Cộng hòa Liên bang Đức đã xây dựng chương trình tổng thể chung cho toàn liên bang. Căn cứ vào đó, từng bang dạy học, đánh giá theo chuẩn và yêu cầu chương trình giáo dục mỗi bang phải đảm bảo đạt được chuẩn chung. Việc mô tả các bậc năng lực cho từng môn học trong chương trình giáo dục phổ thông ở Đức cần phối kết hợp cả ba phương diện: Các lĩnh vực năng lực; Tính phức hợp của nội dung và đối tượng; Các mức độ khác nhau của quá trình nhận thức. Nước Đức xác định xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng năng lực; chú trọng mạch kiến thức chủ đạo; tăng cường phân hóa; coi trọng dạy học tích hợp, liên môn; xác định khung/chuẩn trình độ đào tạo; chuyển sang chương trình mở; tăng quyền tự chủ về chương trình cho các nhà trường; phù hợp với định hướng phát triển quốc gia. Những kinh nghiệm phát triển chương trình giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức là bài học quý báu cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 của Việt Nam.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 605
Bài viết phân tích những vấn đề học được từ kết quả đánh giá quốc tế PISA 2012 và 2015 về giáo dục môn Toán trung học ở Việt Nam. Theo tác giả bài viết, học sinh trung học Việt Nam đã chứng tỏ được năng lực nắm bắt những kĩ năng nhận thức toán học cơ bản trong giải quyết các vấn đề thực tế theo bối cảnh. Giáo viên dạy Toán ở Việt Nam có kiến thức toán cơ sở vững chắc và biết cách phát triển tư duy toán học cho học sinh. Từ những nhận định của thế giới, tác giả mô tả, minh chứng, đưa ra các dữ liệu đáng tin cậy để phân tích về tiềm năng của học sinh và giáo viên dạy môn Toán Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực trẻ cho nền kinh tế tri thức.

