Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,351
Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Mĩ thuật chú trọng tới một số năng lực cần phát triển cho học sinh trong suốt quá trình học tập. Những năng lực như: Năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp nghệ thuật, năng lực phân tích đánh giá, năng lực quan sát khám phá, năng lực tạo hình kĩ thuật số được thể hiện rất rõ trong mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập của học sinh, trong tài liệu học tập cũng như trong các hoạt động triển khai thực hiện chương trình giáo dục nghệ thuật. Từ đó, chương trình giáo dục phổ thông mới môn Mĩ thuật đảm bảo hình thành được năng lực môn học cũng như phát triển tốt năng lực cho học sinh trong thực tiễn cuộc sống.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,529
Tích hợp được xem là một quan điểm dạy học phù hợp với yêu cầu dạy học nhằm hình thành năng lực cho học sinh của ngành Giáo dục và Đào tạo hiện nay. Bài viết đề cập một cách tổng thể về việc ứng dụng quan điểm tích hợp trong dạy học viết văn bản ở tiểu học. Đồng thời, tác giả cũng phân tích tổng quát chương trình và tổ chức dạy học hiện hành theo quan điểm tích hợp để làm cơ sở định hướng cho việc hình thành kĩ năng viết văn bản cho học sinh tiểu học.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,032
Kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress là một kĩ năng thành phần để ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo học chế tín chỉ. Trên cơ sở thao tác hóa khái niệm, bài viết làm rõ thực trạng kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress trong học tập theo học chế tín chỉ. Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 503 sinh viên đại học sư phạm ở TP. Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp. Kết quả cho thấy: kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress trong học tập theo học chế tín chỉ được đánh giá ở mức trung bình; có sự khác biệt cơ bản về mức độ kĩ năng này giữa các nhóm sinh viên theo địa bàn và theo năm học; có mối tương quan khá chặt giữa mức độ nhận thức và mức độ thực hiện kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress trong học tập theo học chế tín chỉ. Đây là cơ sở thực tiễn cho các biện pháp cải thiện kĩ năng để nâng cao chất lượng hoạt động học tập theo học chế tín chỉ.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 772
Làm thế nào để đạt mục tiêu là đào tạo ra những giáo viên có năng lực để trở thành những người quản lí lớp học có hiệu quả? Câu hỏi này đã và đang là mối quan tâm của các nhà khoa học, nhà sư phạm trên thế giới trong nhiều năm. Trong các trường phổ thông, giáo sinh được thực hiện các công việc liên quan đến nghề nghiệp sau này: thực hành, kiến tập, thực tập sư phạm và thực tập nghề nghiệp. Chương trình đào tạo giáo viên phải hướng đến nâng cao kiến thức, kĩ năng và phẩm chất của những giáo sinh; giúp họ chuẩn bị tốt để giảng dạy hiệu quả ở trường phổ thông. Do đó, có thể nói rằng chương trình đào tạo giáo viên ở bậc Đại học cần được kết hợp với một phần quan trọng, thiết yếu là những trải nghiệm thực tế ở trường phổ thông. Thực tập sư phạm là một quá trình cung cấp cho giáo sinh những kinh nghiệm thực tế và hiểu trọn vẹn vai trò của người giáo viên. Bài viết giới thiệu kinh nghiệm tổ chức thực tập sư phạm cho sinh viên sư phạm tại các trường phổ thông thực hành của Trường Đại học Ottwa, Canada.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 661
Bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở khái niệm năng lực, khung năng lực hiệu trưởng trường trung học cơ sở, tác giả trình bày một số vấn đề về bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực: Quan niệm về bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực; Sự cần thiết phải bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực; Nội dung và phương pháp bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,203
Trải nghiệm khám phá khoa học có thể được coi là một phương tiện góp phần giúp trẻ khiếm thính phát triển ngôn ngữ nói. Khám phá khoa học với những hoạt động trải nghiệm thực tiễn sinh động, tạo cho trẻ có cơ hội để tích cực quan sát tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng xung quanh giúp trẻ có cơ hội được giao tiếp ngôn ngữ, hiểu được mối liên hệ giữa lời nói và hành động trực quan trong hoạt động. Thông qua việc trải nghiệm khám phá và được giao tiếp, vốn từ của trẻ được củng cố, mở rộng. Giáo viên lựa chọn hoạt động khám phá phù hợp, lựa chọn phương pháp hướng dẫn cho trẻ hoạt động một cách khoa học thì có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính đạt hiệu quả.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,127
Bài viết đo lường tài sản thương hiệu các trường đại học tại miền Trung dựa trên cảm nhận của sinh viên đang theo học. Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu gồm 412 sinh viên. Kết quả cho thấy, thang đo tài sản thương hiệu gồm 8 thành phần: Nhận biết thương hiệu, chất lượng giảng viên, danh tiếng trường đại học, lòng trung thành, cơ sở vật chất, dịch vụ thư viện, khả năng ngôn ngữ và phát triển nghề nghiệp. Kết quả lòng trung thành thương hiệu tác động mạnh nhất (β=0,385) đến tài sản thương hiệu tổng thể, tiếp theo là danh tiếng trường học (β=0,270) và chất lượng giảng viên (β=0,242).
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,133
Bài viết đề cập đến vấn đề tiếp nhận và giải mã văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn mới. Trong bài, tác giả phân tích: 1/ Xu thế và quan niệm quốc tế về đọc hiểu văn bản; 2/ Định hướng và yêu cầu về đọc hiểu của chương trình Ngữ văn mới. Theo tác giả bài viết, trong chương trình giáo dục phổ thông mới, nội dung môn Ngữ văn được phân chia theo hai giai đoạn, đó là giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Yêu cầu cần đạt về đọc hiểu văn bản trong nhà trường gồm: hiểu nội dung văn bản; hiểu hình thức thể hiện; vận dụng, liên hệ, so sánh ngoài văn bản. Trong văn bản văn học, ngữ liệu cho tất cả các lớp đều phải có văn bản tự sự và văn bản trữ tình. Độ khó của các văn bản đọc tăng dần qua từng năm học. Thời gian để dạy học một văn bản phải tương thích với độ dài và độ phức tạp của văn bản để giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận đầy đủ văn bản, học sinh có cơ hội đọc trực tiếp và trọn vẹn những tác phẩm được chọn học
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,438
Bài viết giới thiệu phương pháp mờ TOPSIS (Technique for Order of Preference by Similarity to Ideal Solution) và ứng dụng nó trong việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên. Thuật toán TOPSIS được cải tiến và áp dụng trên dữ liệu mờ theo 7 bước: Bước 1: Xếp hạng các tiêu chí; Bước 2: Tìm ma trận quyết định; Bước 3: Chuẩn hóa ma trận quyết định; Bước 4: Tìm trọng số của ma trận chuẩn hóa; Bước 5: Tìm nghiệm lí tưởng mờ dương và âm; Bước 6: Khoảng cách mờ của mỗi lựa chọn từ nghiệm lí tưởng mờ dương và âm; Bước 7: Tìm hệ số khoảng cách mờ. Các trường đại học ở Việt Nam đã thực hiện đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo và nâng cao chất lượng người học trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 935
Hiện nay, trong công tác tư vấn, tham vấn hướng nghiệp, trắc nghiệm tâm lí là một trong những công cụ tương đối hiệu quả để đánh giá tính cách, khí chất, năng lực, sở thích của học sinh. Các trắc nghiệm thường được sử dụng trong tham vấn nghề: Trắc nghiệm “Chìa khóa nghề nghiệp” của John Holland; Trắc nghiệm khí chất và những công việc phù hợp cho nhiều khí chất khác nhau của H.J. Eysenck; Trắc nghiệm MBTI; Trắc nghiệm tâm lí tìm hiểu hứng thú nghề nghiệp của A.E.Gôlômstôc; Trắc nghiệm IQ của Alfred.W.MunZent; Trắc nghiệm trí sáng tạo TST-N - CQ của K.J.Schoppe. Qua đó, kết quả của trắc nghiệm tâm lí là một trong những thông tin quan trọng để các nhà giáo dục hướng nghiệp định hướng nghề nghiệp cho học sinh, giúp học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, tính cách của bản thân.

