Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,180
Bài báo phân tích một số dữ liệu khảo sát để xác định những khó khăn và thách thức mà giáo viên môn Khoa học Tự nhiên phải đối mặt khi thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Qua việc xem xét các yếu tố liên quan đến chuyên môn đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất và cách thức phân công giảng dạy, bài báo làm rõ những thách thức của giáo viên khi triển khai Chương trình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một tỉ lệ đáng kể giáo viên gặp trở ngại trong việc thực hiện các hoạt động dạy học tích hợp, thiết kế bài kiểm tra đánh giá năng lực và tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm. Dựa trên việc nhận diện các thách thức cùng nguyên nhân của chúng cũng như mong muốn của giáo viên, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước giải quyết vướng mắc và nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình môn Khoa học Tự nhiên.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 782
Giáo dục thông minh là xu hướng tất yếu trong kỉ nguyên số, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi mô hình đào tạo đại học - cao đẳng. Bài báo đề xuất một mô hình đào tạo đại học - cao đẳng theo định hướng giáo dục thông minh, dựa trên cơ sở lí luận về chương trình đào tạo và các nghiên cứu về giáo dục thông minh. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp và tham vấn chuyên gia, nghiên cứu đã xây dựng một khung lí thuyết toàn diện cho mô hình đào tạo thông minh. Mô hình đề xuất bao gồm sáu thành tố cốt lõi: (1) Mục tiêu đào tạo tích hợp kĩ năng số, (2) Chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số, (3) Nội dung đào tạo linh hoạt và cá nhân hóa, (4) Phương pháp giảng dạy tương tác và tích hợp công nghệ và (5) Hệ thống đánh giá thông minh và liên tục. Ngoài ra, bài báo còn cung cấp một cái nhìn toàn diện về việc áp dụng giáo dục thông minh trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,143
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi và sự thành công trong học tập của sinh viên chính là phong cách giảng dạy của giảng viên. Do đó, một hiểu biết sâu sắc về các phong cách giảng dạy khác nhau đang được các giảng viên sử dụng là cần thiết. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này cung cấp một bức tranh về xu hướng sử dụng phong cách của giảng viên sư phạm Trường Đại học Đồng Nai. Các giảng viên Sư phạm đã có sự điều chỉnh phong cách giảng dạy của mình tùy thuộc vào trình độ và nhu cầu học tập của sinh viên. Kết quả của nghiên cứu cung cấp một số cơ sở khoa học cần thiết cho các chiến lược hỗ trợ giảng viên lựa chọn và điều chỉnh phong cách giảng dạy hướng đến việc tối ưu hóa quá trình dạy học.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 995
Dựa trên lí thuyết học tập tại nơi làm việc thì bồi dưỡng năng lực tổ chức Hoạt động trải nghiệm cho giáo viên tiểu học được hiểu là các hoạt động phát triển các kĩ năng, kiến thức, thái độ và các đặc điểm khác của một cá nhân với tư cách là một giáo viên để họ giải quyết những khó khăn, thách thức trong tổ chức Hoạt động trải nghiệm cho học sinh cũng như những yêu cầu của thực tiễn đa dạng ngay tại nhà trường phổ thông. Trong bồi dưỡng năng lực tổ chức Hoạt động trải nghiệm cho giáo viên thì vai trò của người hiệu trưởng là vô cùng quan trọng, từ việc quản lí xác định nhu cầu, mục tiêu bồi dưỡng đến việc lên kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch sao cho đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hiệu quả. Bài viết phân tích các nội dung quản lí bồi dưỡng phát triển năng lực tổ chức Hoạt động trải nghiệm cho giáo viên tiểu học của hiệu trưởng theo lí thuyết học tập tại nơi làm việc.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 819
Đánh giá chính sách là một bước quan trọng trong chu trình chính sách của mỗi Chính phủ khi mà nó cung cấp những bằng chứng quan trọng cho việc điều chỉnh, cải thiện cũng như hoạch định những chính sách tiếp theo. Việc đánh giá chính sách sẽ góp phần giúp các chính phủ thực hiện tốt trách nhiệm giải trình với những bằng chứng về hiệu quả của các chính sách mà họ ban hành, đồng thời cũng gia tăng sự tín nhiệm của người dân (kể cả những đối tượng nằm ngoài phạm vi của chính sách) đối với Chính phủ của họ. Bài viết trình bày đề xuất về mô hình đánh giá hiệu quả của chính sách xã hội hóa xuất bản sách giáo khoa - một chính sách lần đầu tiên thực hiện tại Việt Nam; Sử dụng các phương pháp định tính (phỏng vấn chuyên gia) và định lượng (phân tích nhân tố khám phá EFA), 29 chỉ báo về mục tiêu thuộc 04 nhóm nhân tố thể hiện hiệu quả của chính sách được xác định bao gồm: 1/ Hiệu quả về thể chế và quản lí; 2/ Hiệu quả về kinh tế; 3/ Hiệu quả về xã hội; 4/ Hiệu quả về nâng cao chất lượng giáo dục. Những kết quả này sẽ là cơ sở để tiến hành những nghiên cứu diện rộng để đánh giá hiệu quả của chính sách xã hội hóa xuất bản sách giáo khoa trong giai đoạn tới.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 862
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 947
Trẻ khiếm thính ở các mức độ thính lực khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới phát triển kĩ năng nghe nói của trẻ nói riêng, phát triển của trẻ nói chung. Phát triển kĩ năng nghe nói cho trẻ khiếm thính 5-6 tuổi là tiền đề để trẻ khiếm thính vào học lớp 1 có hiệu quả. Phát triển kĩ năng nghe - nói cho trẻ khiếm thính cũng có các bước tương đồng như với mọi trẻ em khác. Tuy nhiên, dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ, mức độ mất thính lực và đặc điểm kĩ năng nghe nói của trẻ để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức sao cho phù hợp. Việc đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng nghe nói cho trẻ khiếm thính 5-6 tuổi dựa trên các vấn đề lí luận về phát triển ngôn ngữ - giao tiếp nói chung và đặc điểm kĩ năng nghe nói của trẻ khiếm thính 5-6 tuổi nói riêng. Trong quá trình thực hiện, giáo viên và cha mẹ trẻ phải vận dụng các biện pháp một cách linh hoạt sẽ giúp trẻ hình thành được kĩ năng nghe nói, tạo điều kiện cho trẻ khiếm thính 5-6 tuổi nhập học lớp 1 có hiệu quả.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 998
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 chỉ rõ, các nhà trường phải thường xuyên thực hiện việc phát triển chương trình nhà trường, trong đó có phát triển Chương trình Hoạt động trải nghiệm 2018. Những nội dung giáo dục cốt lõi đã được định hướng trong Chương trình Hoạt động trải nghiệm 2018 rất cần được đánh giá, điều chỉnh sao cho vừa đảm bảo đạt được mục tiêu, yêu cầu cần đạt được quy định trong chương trình vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, của trường, của lớp. Bài viết đề cập đến việc phát triển nội dung giáo dục của Chương trình Hoạt động trải nghiệm 2018 cấp Tiểu học trong xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường với các vấn đề chính như: Cơ sở khoa học, quy trình, những lưu ý khi thực hiện quy trình. Ngoài ra, những minh hoạ cụ thể cho quy trình sẽ giúp giáo viên tiểu học dễ dàng và thuận lợi hơn khi thực hiện phát triển nội dung giáo dục trong chương trình, góp phần thực hiện có kết quả Chương trình Hoạt động trải nghiệm 2018.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 906
Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục, năng lực số của học sinh đã trở thành yếu tố cốt lõi trong Chương trình Giáo dục phổ thông phổ thông 2018. Việc phát triển năng lực số cho học sinh trung học phổ thông không chỉ là một yêu cầu bắt buộc để đảm bảo chất lượng dạy và học mà còn là nền tảng giúp học sinh tiếp cận, nghiên cứu và tiếp thu tri thức một cách chủ động. Hơn nữa, định hình năng lực số còn giúp học sinh phát triển khả năng giải quyết các tình huống thực tế trong cuộc sống một cách hiệu quả và linh hoạt. Bài viết chỉ ra mối quan hệ giữa khung năng lực số trong nhà trường với mô hình kiến thức - kĩ năng - thái độ (KSA), đồng thời đưa ra những định hướng phát triển “năng lực số” cho học sinh ở trường trung học phổ thông.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,351
Công tác tư vấn học đường mang nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng không chỉ đối với bản thân học sinh mà còn đối với gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình giáo dục. Ở Việt Nam, trong bối cảnh đội ngũ cán bộ, giáo viên chuyên trách về tâm lí học trường học chưa trở thành yêu cầu bắt buộc trong mỗi nhà trường thì năng lực tư vấn tâm lí trở nên cần thiết đối với đội ngũ giáo viên. Từ góc độ các trường Sư phạm, vấn đề đào tạo và phát triển nhận thức, thái độ, kĩ năng, năng lực tư vấn tâm lí ở sinh viên sư phạm cũng đã và đang được quan tâm chú trọng.Tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy lĩnh vực tư vấn tâm lí học đường như nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lí của học sinh, nghiên cứu về năng lực tư vấn tâm lí của giáo viên đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy chưa có công trình trong nước được công bố nghiên cứu về năng lực tư vấn tâm lí của sinh viên Sư phạm song nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về chuẩn đầu ra và các tiêu chí đánh giá sinh viên Sư phạm cũng có đề cập đến năng lực tư vấn tâm lí của sinh viên Sư phạm.

