Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 921
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục đại học, hoạt động thể dục thể thao sinh viên cũng cần được tổ chức theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn. Bài viết đề xuất một số phương án vận dụng chuyển đổi số trong tổ chức hoạt động thể dục thể thao tại các trường đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời đại số. Cụ thể, bài viết tập trung vào bốn nhóm giải pháp chính: 1) Ứng dụng nền tảng số trong quản lí và tổ chức hoạt động thể dục thể thao; 2) Phát triển hoạt động thể dục thể thao trực tuyến và mô hình kết hợp; 3) Số hóa quy trình tổ chức và điều phối hoạt động thể dục thể thao; 4) Đào tạo và nâng cao năng lực cho giảng viên và cán bộ quản lí trong môi trường số. Các đề xuất này được xây dựng dựa trên các điều kiện thực tế và phù hợp với chiến lược chuyển đổi số quốc gia nhằm thúc đẩy môi trường giáo dục thể chất năng động, hiện đại và bền vững tại các trường đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 903
Sự sẵn sàng giao tiếp, một yếu tố quan trọng trong thành công của việc học ngôn ngữ, thường bị cản trở bởi các rào cản tâm lí như sợ mắc lỗi và thiếu tự tin. Bên cạnh đó, thói quen tư duy hữu hình là các hoạt động có cấu trúc khuyến khích suy nghĩ sâu sắc và tạo cơ hội để người học phản ánh về quá trình tư duy, cung cấp các khung hỗ trợ để người học sắp xếp tư duy của mình, tham gia phản biện và giao tiếp hiệu quả. Nghiên cứu này khám phá lợi ích của thói quen tư duy hữu hình trong việc nâng cao sự sẵn sàng giao tiếp của người học. Bài viết giới thiệu các khái niệm về thói quen tư duy hữu hình, sau đó phân tích các ảnh hưởng tích cực của thói quen tư duy hữu hình tới sự sẵn sàng giao tiếp. Kết luận của bài báo nhấn mạnh tiềm năng của thói quen tư duy hữu hình như một công cụ sư phạm giúp tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích người học chủ động sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, đồng thời đưa ra các gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai và ứng dụng rộng rãi hơn trong dạy học tiếng Anh.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 6,337
Bài viết tổng quan các nghiên cứu về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng. Trong đó, các nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng được tiếp cận từ các thành tố của quá trình giáo dục; các nghiên cứu về quản lí hoạt động này được tiếp cận từ mô hình quản lí chất lượng PDCA (Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến). Nhiều công trình trong và ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, kết quả đạt được của hoạt động này. Một số nghiên cứu bước đầu đề cập đến các bước trong quy trình quản lí từ sự cần thiết, việc lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, đánh giá kết quả và cải tiến hoạt động. Tuy nhiên, bài viết chỉ ra rằng, lí luận về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng hiện vẫn còn thiếu tính hệ thống, chưa có những nghiên cứu đồng bộ, toàn diện trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng. Từ đó, bài viết khuyến nghị cần có các nghiên cứu sâu hơn để nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 762
Nghiên cứu thực hiện đánh giá mối tương quan giữa kết quả học tập cấp Trung học phổ thông (HSGPA) của 55.658 và 33.551 học sinh tham dự kì thi Đánh giá năng lực (HSA) của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024 và 2023. Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu gồm điểm trung bình chung học tập lớp 10, 11 và học kì 1 lớp 12 với điểm thi HSA của học sinh. Hệ số tương quan giữa điểm HSGPA và HSA được đánh giá theo tỉ lệ hiệp phương sai điểm HSGPA và HSA với độ lệch chuẩn của hai biến số này. Hệ số tương quan Pearson giữa điểm thi HSA và điểm học tập cấp Trung học phổ thông tính toán được tương đối thấp. Giá trị r nằm trong khoảng 0,34 đến 0,41; không ổn định theo năm và khu vực tuyển sinh. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị các cơ sở giáo dục đại học cân nhắc về độ tin cậy và chất lượng đào tạo khi sử dụng điểm HSGPA trong xét tuyển đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,182
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công nghệ quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông. Bài viết phân tích kết quả khảo sát thực trạng ứng dụng AI trong dạy và học môn Địa lí trên 633 học sinh và 126 giáo viên Địa lí trung học phổ thông từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI đã bắt đầu được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và học tập nhưng mức độ sử dụng còn phân hóa, với một số giáo viên và học sinh tiếp cận thường xuyên, trong khi nhiều người còn gặp khó khăn về công nghệ và thiếu tài nguyên hỗ trợ. Dù AI mang lại nhiều lợi ích như tăng hứng thú học tập, phát triển tư duy phản biện, nhưng cũng tồn tại rủi ro như giảm khả năng tự học, tăng nguy cơ sao chép. Nghiên cứu khuyến nghị cần cải thiện nhận thức, đào tạo kĩ năng và tăng cường cơ sở hạ tầng công nghệ để tối ưu hóa hiệu quả khi ứng dụng AI trong dạy học Địa lí.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 10,737
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong giáo dục với khả năng cá nhân hóa việc học, hỗ trợ giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục. AI góp phần thúc đẩy công bằng giáo dục, đặc biệt với học sinh có nhu cầu đặc biệt và nâng cao khả năng tự học bằng cách phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định phù hợp. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI trong giáo dục cũng đặt ra nhiều lo ngại như gian lận, giảm tương tác, rủi ro bảo mật và bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Các quốc gia trên thế giới đã đưa xây dựng khung năng lực trí tuệ nhân tạo và tích hợp AI vào chương trình quốc gia. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu ứng dụng AI trong giáo dục, tuy nhiên vẫn thiếu quy định, hướng dẫn sử dụng và tích hợp AI vào chương trình giáo dục phổ thông. Nghiên cứu này nhằm đề xuất Khung năng lực AI dành cho học sinh phổ thông phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng gợi ý các cách ứng dụng AI trong quá trình học tập của học sinh. Kết quả nghiên cứu này là nguồn thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà quản lí giáo dục, các nhà giáo dục sử dụng hiệu quả AI trong bối cảnh nhà trường phổ thông.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 658
Với việc ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi theo Quyết định số 4222/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số khía cạnh của nội dung giáo dục khả năng nhận thức ngữ âm cho trẻ mầm non lần đầu tiên được chính thức đề cập. Điều này đã mang lại những triển vọng mới về chất lượng giáo dục trẻ nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho giáo viên trong việc xây dựng chương trình và thiết kế các hoạt động giáo dục. Bằng phương pháp phân tích hệ thống, nghiên cứu này mô tả toàn diện bản chất của phạm trù khả năng nhận thức ngữ âm trong cấu trúc năng lực tiền đọc viết của trẻ em cũng như các biểu hiện cụ thể về mức độ phát triển của năng lực ở trẻ nói tiếng Việt, làm cơ sở cho việc thiết kế các kế hoạch giáo dục nhằm phát triển khả năng nhận thức ngữ âm, đáp ứng các chỉ số phát triển theo mong đợi của Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi trong cơ sở giáo dục mầm non.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,066
Dạy học bằng phương pháp nghiên cứu khoa học là hướng tiếp cận phù hợp với các môn khoa học thực nghiệm, trong đó có Sinh học. Với phương pháp này, thực tiễn dạy học đã được vận dụng nhằm đáp ứng với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành. Trên cơ sở điều tra thực tiễn, đã ghi nhận một số ý kiến phản hồi khác nhau từ phía giáo viên. Xuất phát từ các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, giáo viên cũng đã gặp phải một số khó khăn và rào cản nhất định. Nghiên cứu đã hệ thống một số vấn đề rút ra từ thực tiễn điều tra, từ đó đề xuất hệ thống thí nghiệm và minh hoạ trong quy trình nghiên cứu khoa học đối với bước thực nghiệm trong dạy học nội dung “Hệ sắc tố quang hợp” thuộc bài “Quang hợp ở thực vật” của chủ đề 1 (Trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng ở sinh vật), phần Sinh học cơ thể - Sinh học 11 (Bộ Cánh Diều).
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 635
Học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là một xu thế phát triển tất yếu khi thế giới bước vào nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, xây dựng xã hội học tập không phải một việc dễ dàng, nó cần một quá trình lâu dài, trong đó có một hệ thống giáo dục bảo đảm cho mọi công dân, gia đình, tổ chức, cộng đồng học tập. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tiếp thu tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề này. Thông qua đó, có thể thấy rõ học tập suốt đời (tiến đến xã hội học tập) đã tồn tại và luôn phát triển không ngừng trong lịch sử giáo dục Việt Nam.