Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 393
Hiện nay, việc xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường ở các trường sĩ quan quân đội có tính cấp thiết, vừa đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, kỉ luật, hiệu quả vừa là cơ sở hình thành phẩm chất, năng lực và tư duy cho đội ngũ sĩ quan tương lai, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh” trong giai đoạn hội nhập và hiện đại hóa. Bài viết này tập trung phân tích những nguyên tắc, nội dung trọng tâm và những vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường sĩ quan quân đội trong bối cảnh hiện nay, đồng thời chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu, bao gồm: sự cần thiết nghiên cứu để xác định cơ chế, phương thức triển khai văn hóa nhà trường phù hợp với thực tiễn quân đội, đánh giá tác động của văn hóa nhà trường, cũng như nhận diện các yếu tố hạn chế, thách thức trong quản lí, giáo dục và phát triển con người trong môi trường quân sự. Trên cơ sở đó, bài viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập thông tin, phân tích - tổng hợp tài liệu, nghiên cứu và tổng kết các sản phẩm khoa học cùng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết để bảo đảm tính khách quan, tin cậy trong quá trình nghiên cứu.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,369
Chuyển đổi số đang làm thay đổi cách tiếp cận tri thức và phương thức học tập ở bậc Đại học đặt ra yêu cầu phát triển năng lực tự học và sẵn sàng học tập suốt đời cho sinh viên. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng tự học và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành phương pháp tự học của sinh viên Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi. Thiết kế định lượng cắt ngang được áp dụng với 1.007 sinh viên thông qua bảng hỏi gồm năm nhóm nội dung: Động lực học tập, thói quen tự học, tác động của giảng viên và môi trường học tập, kĩ năng tự học và sẵn sàng học tập suốt đời. Kết quả cho thấy, chỉ 39,23% sinh viên có phương pháp tự học cụ thể, trong khi hơn 83,52% nhận thức được tầm quan trọng của tự học, thể hiện khoảng cách giữa nhận thức và hành vi. Mô hình hồi quy logistic nhị phân được sử dụng để ước lượng xác suất sinh viên có phương pháp tự học cụ thể, trong đó thời lượng tự học mỗi ngày là biến dự báo hành vi mạnh nhất (p < 0,001) còn các yếu tố khác có tác động vừa hoặc hạn chế. Nghiên cứu đề xuất tích hợp kĩ năng tự học vào chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tự chủ và gắn năng lực tự học trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 598
Kĩ năng ghi chép ngày nay không chỉ đơn thuần là hành vi sao chép thông tin mà đã trở thành một năng lực học thuật quan trọng, hỗ trợ người học trong việc xử lí, tổ chức và lưu giữ tri thức. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các kĩ thuật ghi chép hiệu quả và khả năng nghe hiểu của sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh trong bối cảnh học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL), một lĩnh vực còn ít được nghiên cứu trong bối cảnh giáo dục ngôn ngữ tại Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát 107 sinh viên đại học chuyên ngành Tiếng Anh (EFL English - major undergraduates), nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng chính. Kết quả chỉ ra năm nhóm thành phần chủ yếu: Kĩ năng cá nhân, tổ chức nội dung, trực quan và kí hiệu, ngôn ngữ và viết tắt, tốc độ và lượng thông tin ghi chép. Trong đó, tổ chức nội dung là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng nghe hiểu của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy kĩ thuật ghi chép hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kĩ năng nghe học thuật và cần được tích hợp vào quá trình giảng dạy kĩ năng nghe trong bối cảnh EFL. Ngoài ra, kết quả gợi ý rằng, việc đào tạo kĩ năng ghi chép nhấn mạnh vào tổ chức nội dung nên được tích hợp có hệ thống vào chương trình nghe học thuật nhằm tối đa hóa hiệu quả hiểu bài của người học. Nghiên cứu mang lại những hàm ý thực tiễn cho giảng viên và cơ sở đào tạo trong việc thiết kế chiến lược giảng dạy và xây dựng hoạt động hỗ trợ giúp người học cải thiện năng lực nghe thông qua các kĩ thuật ghi chép có cấu trúc và cá nhân hóa.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 584
Nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng và kiểm định một thang đo phù hợp, có độ tin cậy để đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh của sinh viên các trường đại học tại Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, bắt đầu với việc tổng quan tài liệu để thiết kế thang đo, sau đó sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành khảo sát qua hai vòng với cỡ mẫu lớn từ nhiều trường đại học và trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh. Dữ liệu thu thập được xử lí bằng phần mềm Stata, thông qua các thống kê mô tả, kiểm nghiệm độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận sự phù hợp trong việc xây dựng và kiểm định một thang đo gồm 03 thành tố và 10 chỉ báo. Thang đo này cung cấp một khung đánh giá đa chiều, vừa đo lường kiến thức và kĩ năng thực hành quân sự vừa quan tâm đến phẩm chất công dân, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỉ luật của sinh viên. Nghiên cứu đã đóng góp một công cụ khoa học phù hợp với khung chương trình giáo dục tiếp cận năng lực hiện đại. Kết quả cũng gợi ý cần kiểm định thêm thang đo trên phạm vi rộng hơn và chỉ ra các hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 678
Đánh giá trong giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ đạt được mục tiêu học tập của người học, đồng thời cung cấp cơ sở để điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả. Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên hiện nay còn lúng túng khi triển khai hoạt động đánh giá, đặc biệt trong việc áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại. Trên cơ sở tổng hợp, hệ thống, phân tích sâu các tài liệu học thuật uy tín trong và ngoài nước, bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu hiện có liên quan đến việc phát triển năng lực đánh giá kết quả giáo dục cho sinh viên Đại học Sư phạm, xác định khoảng trống trong nghiên cứu và đề xuất các hướng đi tiềm năng để nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 543
Chuyển đổi số đang tác động sâu rộng đến giáo dục đại học, khiến năng lực học tập tự chủ trở thành yếu tố then chốt giúp sinh viên thích ứng và phát triển bền vững. Trên cơ sở phân tích tổng quan các công trình trong và ngoài nước, nghiên cứu này xác định các thành phần cốt lõi của năng lực học tập tự chủ và làm rõ vai trò hỗ trợ của cố vấn học tập, qua đó khắc phục khoảng trống trong việc gắn kết giữa hoạt động cố vấn và năng lực tự học trong môi trường số. Kết quả cho thấy năng lực học tập tự chủ của sinh viên được cấu thành từ chín khía cạnh quan trọng. Đồng thời, cố vấn học tập không chỉ cung cấp thông tin mà còn hỗ trợ sinh viên trong quản lí thời gian, khai thác công nghệ, xây dựng chiến lược học tập và duy trì môi trường phản hồi liên tục. Những phát hiện này mang lại gợi ý hữu ích cho nhà quản lí, giảng viên và cố vấn trong việc thiết kế, triển khai hệ thống hỗ trợ sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong kỉ nguyên số.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 369
Có nhiều bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo các trình độ đại học ở trong nước và thế giới. Trong đó, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn xếp hạng của mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á (ASEAN University Network/ AUN) đang được các trường đại học hết sức quan tâm, áp dụng. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thu thập, phân tích các dữ liệu thứ cấp, trích dẫn một số nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các văn bản pháp quy của Nhà nước và mô tả một chương trình đào tạo ngành Quản lí giáo dục trình độ Thạc sĩ theo các bước phát triển chương trình đào tạo của Khung bảo đảm chất lượng AUN-QA. Nội dung bài viết gồm: Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo; bộ tiêu chuẩn kiểm định, đánh giá chương trình đào tạo theo AUN-QA; xây dựng chương trình đào tạo ngành Quản lí giáo dục trình độ Thạc sĩ, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội; các điều kiện bảo đảm chất lượng đáp ứng chuẩn đầu ra theo tiêu chuẩn kiểm định AUN-QA. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị cho đào tạo ngành Quản lí giáo dục trình độ Thạc sĩ ở Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đáp ứng chuẩn đầu ra theo tiêu chuẩn kiểm định AUN-QA.