Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,867
Bài viết trình bày kết quả xác định mức độ tác động của yếu tố quản lí đến kết quả giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở các trường mầm non công lập Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng với mẫu khảo sát gồm 125 cán bộ quản lí và giáo viên. Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tố như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả giáo dục hòa nhập có mối tương quan dương ở mức cao. Trong đó, yếu tố tổ chức cho thấy tác động tích cực có ý nghĩa đến kết quả giáo dục hòa nhập, trong khi các yếu tố còn lại có tác động không đáng kể. Nghiên cứu đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí, từ đó góp phần cải thiện chất lượng giáo dục hòa nhập trong các cơ sở giáo dục mầm non. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra những gợi ý về các khía cạnh cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong các công trình sau này.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 520
Hoạt động dạy học môn học lớp 9 nhằm định hướng nghề nghiệp là một trong những biện pháp rèn luyện kĩ năng, nâng cao nhận thức về ngành nghề, chuẩn bị hỗ trợ cho học sinh lựa chọn môn học ở lớp 10 và nghề nghiệp tương lai. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu xác định cách thức tổ chức dạy học các nội dung/chủ đề môn học thông qua việc liên kết nội dung môn học với ứng dụng trong thực tiễn các nghề nghiệp thực tế, kết hợp các cơ hội học tập trải nghiệm, thúc đẩy các phương pháp học tập chủ động. Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết để phân tích, xác định các nguyên tắc dạy học, nội dung chủ đề có khả năng dạy học hướng nghiệp và quy trình xây dựng hoạt động dạy học nhằm hướng nghiệp cho học sinh thông qua môn học. Kết quả của nghiên cứu bao gồm: 1) Phân tích các nguyên tắc trong việc tổ chức định hướng nghề nghiệp trong môn học; 2) Phân tích các đặc điểm cụ thể của chương trình một số môn học có khả năng hướng nghiệp; 3) Đề xuất quy trình xây dựng các hoạt động học tập nhằm mục đích định hướng nghề nghiệp cho học sinh và thiết kế minh họa một chủ đề trong môn Khoa học tự nhiên lớp 9.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 859
Dạy học kết hợp là một trong những mô hình mới dựa trên nền tảng số xuất hiện trong những thập kỉ gần đây đã thúc đẩy việc dạy và học trở nên năng động hơn, mang đến những trải nghiệm học tập đa dạng. Mô hình này có nhiều ưu thế trong dạy học nói chung và dạy học các môn lựa chọn ở trường trung học phổ thông nói riêng. Nhằm đánh giá thực trạng vận dụng mô hình dạy học kết hợp đối với các môn lựa chọn, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 1850 giáo viên trung học phổ thông trên 05 tỉnh thành, đại diện cho các vùng miền cả nước. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết giáo viên đã nhận thức đúng và đầy đủ về bản chất của mô hình dạy học kết hợp. Trong quá trình dạy học, giáo viên đã chủ động tích cực triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ số, thực hiện dạy học kết hợp ở những mức độ nhất định. Điều đáng ghi nhận là dù còn nhiều khó khăn nhưng hầu hết giáo viên đều có tâm thế sẵn sàng phát triển bản thân để thích ứng với việc thực hiện mô hình dạy học mới. Bên cạnh kết quả đó vẫn còn một số bất cập liên quan đến nhận thức của giáo viên, những vướng mắc trong quá trình áp dụng mô hình dạy học kết hợp. Đây là căn cứ thực tiễn quan trọng để tìm kiếm các biện pháp hỗ trợ giúp giáo viên khắc phục khó khăn, áp dụng mô hình dạy học kết hợp có hiệu quả vào thực tiễn.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 668
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục đại học, hoạt động thể dục thể thao sinh viên cũng cần được tổ chức theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn. Bài viết đề xuất một số phương án vận dụng chuyển đổi số trong tổ chức hoạt động thể dục thể thao tại các trường đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong thời đại số. Cụ thể, bài viết tập trung vào bốn nhóm giải pháp chính: 1) Ứng dụng nền tảng số trong quản lí và tổ chức hoạt động thể dục thể thao; 2) Phát triển hoạt động thể dục thể thao trực tuyến và mô hình kết hợp; 3) Số hóa quy trình tổ chức và điều phối hoạt động thể dục thể thao; 4) Đào tạo và nâng cao năng lực cho giảng viên và cán bộ quản lí trong môi trường số. Các đề xuất này được xây dựng dựa trên các điều kiện thực tế và phù hợp với chiến lược chuyển đổi số quốc gia nhằm thúc đẩy môi trường giáo dục thể chất năng động, hiện đại và bền vững tại các trường đại học.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 600
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 766
Sự sẵn sàng giao tiếp, một yếu tố quan trọng trong thành công của việc học ngôn ngữ, thường bị cản trở bởi các rào cản tâm lí như sợ mắc lỗi và thiếu tự tin. Bên cạnh đó, thói quen tư duy hữu hình là các hoạt động có cấu trúc khuyến khích suy nghĩ sâu sắc và tạo cơ hội để người học phản ánh về quá trình tư duy, cung cấp các khung hỗ trợ để người học sắp xếp tư duy của mình, tham gia phản biện và giao tiếp hiệu quả. Nghiên cứu này khám phá lợi ích của thói quen tư duy hữu hình trong việc nâng cao sự sẵn sàng giao tiếp của người học. Bài viết giới thiệu các khái niệm về thói quen tư duy hữu hình, sau đó phân tích các ảnh hưởng tích cực của thói quen tư duy hữu hình tới sự sẵn sàng giao tiếp. Kết luận của bài báo nhấn mạnh tiềm năng của thói quen tư duy hữu hình như một công cụ sư phạm giúp tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích người học chủ động sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, đồng thời đưa ra các gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai và ứng dụng rộng rãi hơn trong dạy học tiếng Anh.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 6,116
Bài viết tổng quan các nghiên cứu về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng. Trong đó, các nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng được tiếp cận từ các thành tố của quá trình giáo dục; các nghiên cứu về quản lí hoạt động này được tiếp cận từ mô hình quản lí chất lượng PDCA (Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến). Nhiều công trình trong và ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, kết quả đạt được của hoạt động này. Một số nghiên cứu bước đầu đề cập đến các bước trong quy trình quản lí từ sự cần thiết, việc lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, đánh giá kết quả và cải tiến hoạt động. Tuy nhiên, bài viết chỉ ra rằng, lí luận về quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng hiện vẫn còn thiếu tính hệ thống, chưa có những nghiên cứu đồng bộ, toàn diện trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng. Từ đó, bài viết khuyến nghị cần có các nghiên cứu sâu hơn để nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 645
Nghiên cứu thực hiện đánh giá mối tương quan giữa kết quả học tập cấp Trung học phổ thông (HSGPA) của 55.658 và 33.551 học sinh tham dự kì thi Đánh giá năng lực (HSA) của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024 và 2023. Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu gồm điểm trung bình chung học tập lớp 10, 11 và học kì 1 lớp 12 với điểm thi HSA của học sinh. Hệ số tương quan giữa điểm HSGPA và HSA được đánh giá theo tỉ lệ hiệp phương sai điểm HSGPA và HSA với độ lệch chuẩn của hai biến số này. Hệ số tương quan Pearson giữa điểm thi HSA và điểm học tập cấp Trung học phổ thông tính toán được tương đối thấp. Giá trị r nằm trong khoảng 0,34 đến 0,41; không ổn định theo năm và khu vực tuyển sinh. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị các cơ sở giáo dục đại học cân nhắc về độ tin cậy và chất lượng đào tạo khi sử dụng điểm HSGPA trong xét tuyển đại học.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,745
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công nghệ quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông. Bài viết phân tích kết quả khảo sát thực trạng ứng dụng AI trong dạy và học môn Địa lí trên 633 học sinh và 126 giáo viên Địa lí trung học phổ thông từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI đã bắt đầu được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và học tập nhưng mức độ sử dụng còn phân hóa, với một số giáo viên và học sinh tiếp cận thường xuyên, trong khi nhiều người còn gặp khó khăn về công nghệ và thiếu tài nguyên hỗ trợ. Dù AI mang lại nhiều lợi ích như tăng hứng thú học tập, phát triển tư duy phản biện, nhưng cũng tồn tại rủi ro như giảm khả năng tự học, tăng nguy cơ sao chép. Nghiên cứu khuyến nghị cần cải thiện nhận thức, đào tạo kĩ năng và tăng cường cơ sở hạ tầng công nghệ để tối ưu hóa hiệu quả khi ứng dụng AI trong dạy học Địa lí.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 9,743
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong giáo dục với khả năng cá nhân hóa việc học, hỗ trợ giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục. AI góp phần thúc đẩy công bằng giáo dục, đặc biệt với học sinh có nhu cầu đặc biệt và nâng cao khả năng tự học bằng cách phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định phù hợp. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI trong giáo dục cũng đặt ra nhiều lo ngại như gian lận, giảm tương tác, rủi ro bảo mật và bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Các quốc gia trên thế giới đã đưa xây dựng khung năng lực trí tuệ nhân tạo và tích hợp AI vào chương trình quốc gia. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu ứng dụng AI trong giáo dục, tuy nhiên vẫn thiếu quy định, hướng dẫn sử dụng và tích hợp AI vào chương trình giáo dục phổ thông. Nghiên cứu này nhằm đề xuất Khung năng lực AI dành cho học sinh phổ thông phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng gợi ý các cách ứng dụng AI trong quá trình học tập của học sinh. Kết quả nghiên cứu này là nguồn thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà quản lí giáo dục, các nhà giáo dục sử dụng hiệu quả AI trong bối cảnh nhà trường phổ thông.

