Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 279
Nghiên cứu năng lực cảm thụ văn học của học sinh dân tộc Thái lớp 4 - 5 tại các trường tiểu học miền núi phía Bắc, một yếu tố quan trọng trong hình thành nhân cách, phát triển ngôn ngữ và tư duy sáng tạo. Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và những hạn chế trong năng lực cảm thụ văn học của học sinh dân tộc Thái lớp 4-5 ở miền núi phía Bắc, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn học, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái. Các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào dạy học song ngữ và phát triển kĩ năng đọc hiểu cho học sinh dân tộc thiểu số, trong khi năng lực cảm thụ văn học của học sinh dân tộc Thái ở cấp Tiểu học vẫn chưa được khảo sát cụ thể. Nghiên cứu này được tiến hành tại hai tỉnh Sơn La và Lai Châu với 4 trường, 8 lớp, 300 học sinh, 12 giáo viên và 50 phụ huynh tham gia khảo sát. Phương pháp thực hiện gồm khảo sát, quan sát lớp học, phỏng vấn giáo viên và phụ huynh, kết hợp phân tích định lượng và định tính về kĩ năng đọc hiểu, diễn đạt và cảm nhận tác phẩm. Kết quả cho thấy, học sinh còn hạn chế các kĩ năng này do rào cản ngôn ngữ, học liệu chưa phù hợp và phương pháp dạy học chưa hiệu quả.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 341
Sử dụng công nghệ trong giáo dục học sinh khuyết tật nhìn là một trong những giải pháp nhằm tăng cường chất lượng giáo dục, hỗ trợ và giảm thiểu các rào cản khó khăn của các em. Nhằm đánh giá thực trạng sử dụng công nghệ trong dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật nhìn tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 80 giáo viên, 38 phụ huynh và 42 học sinh khuyết tật nhìn. Kết quả cho thấy, hầu hết giáo viên, phụ huynh và học sinh khuyết tật nhìn đều nhận thức được rất rõ vai trò, ý nghĩa của công nghệ, tuy nhiên tỉ lệ sử dụng các công nghệ trên thực tế vẫn còn rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân khác nhau. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ trong dạy học và hỗ trợ học sinh khuyết tật nhìn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,004

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, việc đánh giá khả năng ứng dụng AI trong dạy học Toán là cần thiết. Nghiên cứu này tập trung khảo sát năng lực của GPT-5 trong giải quyết các bài toán tối ưu hóa thực tế thuộc Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán 12 (2018) vốn là dạng Toán học sinh thường gặp khó khăn. Bộ dữ liệu gồm 40 bài toán tiêu biểu được giải bằng ba cấu hình lệnh khác nhau. Các lời giải do AI tạo ra được đánh giá dựa trên rubric năm tiêu chí: Mô hình hóa, quy trình giải tích, phân tích biên, diễn giải thực tiễn và trình bày. Hai giáo viên môn Toán độc lập tham gia chấm điểm; độ tin cậy được kiểm chứng bằng hệ số Cohen’s Kappa và phân tích thống kê. Kết quả cho thấy, GPT-5 có ưu thế ở mô hình hóa, phân tích biên và trình bày nhưng còn hạn chế ở lập luận giải tích và diễn giải thực tiễn. Kết quả này cung cấp bằng chứng khoa học về tiềm năng và giới hạn của AI trong dạy học Toán, đồng thời gợi ý rằng AI nên được sử dụng như một công cụ hỗ trợ dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 335
Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp tiếp cận kết hợp giữa mô hình Markov ẩn và Lí thuyết học tập tự điều chỉnh để suy luận trạng thái năng lực số của sinh viên sư phạm dựa trên dữ liệu hành vi thu thập từ Hệ thống Quản lí học tập Moodle (LMS). Dữ liệu được thu thập từ hai học phần: “Tin học đại cương” (216 sinh viên, 498.050 sự kiện) và “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học” (51 sinh viên, 16.878 sự kiện) trong 15 tuần. Kết quả cho thấy, mô hình Markov ẩn có khả năng phân biệt các trạng thái học tập tiểm ẩn khác biệt, tương ứng với các mức độ năng lực số khác nhau, được diễn giải thông qua lăng kính các giai đoạn học tập tự điều chỉnh. Nghiên cứu đóng góp cả về phương pháp luận (tích hợp mô hình Markov ẩn - học tập tự điều chỉnh) và thực tiễn (cung cấp một công cụ đánh giá khách quan, liên tục dựa trên dữ liệu hành vi) cho lĩnh vực đánh giá năng lực số trong giáo dục đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 551
Bài báo tập trung phân tích các xu hướng tiếp cận nổi bật trong xây dựng Chương trình Giáo dục mầm non trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng tiếp cận trong đổi mới Chương trình Giáo dục mầm non tại Việt Nam. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, bài báo cho thấy các xu hướng tiếp cận trong xây dựng và phát triển chương trình giáo dục mầm non: Tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm, tiếp cận năng lực, tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, tiếp cận tích hợp... Mặc dù Chương trình Giáo dục mầm non hiện hành tại Việt Nam đã thể hiện bước chuyển đáng kể trong việc nâng cao chất lượng, song định hướng tiếp cận trong Chương trình chưa cập nhật với xu hướng đổi mới tiếp cận của giáo dục mầm non thế giới, đặc biệt là chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Trước bối cảnh đổi mới giáo dục và yêu cầu phát triển toàn diện trẻ em trong Thế kỉ XXI, việc đổi mới Chương trình Giáo dục mầm non theo định hướng tiếp cận xây dựng chương trình phù hợp với xu hướng quốc tế, kết hợp với đặc trưng văn hóa - xã hội và yêu cầu đổi mới giáo dục, tạo nền tảng để phát triển các giá trị cốt lõi của con người Việt Nam là cần thiết.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,799
Sự phát triển của công nghệ AI tạo sinh (GenAI) và các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) khẳng định tiềm năng của các công cụ AI trong việc hỗ trợ giải quyết các khó khăn đồng thời thúc đẩy quá trình dạy học ngôn ngữ và văn học. Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 triển khai nội dung trên trục chính là bốn kĩ năng: đọc, viết, nói và nghe. Các công cụ AI hiện nay đều có thể tham gia vào hỗ trợ quá trình dạy học các kĩ năng này, thế nhưng chưa phổ biến, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn và chưa có thành tựu rõ rệt, đặc biệt ở trung học phổ thông. Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận và phương pháp khảo sát, điều tra thực tiễn để xác định những khó khăn khi ứng dụng AI trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường phổ thông. Nhận thấy một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thiếu định hướng khi sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo vào dạy học nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để thiết lập cách thức đưa AI vào quá trình giáo dục nhằm đạt hiệu quả như mong muốn. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học nói và nghe ở trường phổ thông, từ việc trình bày khái niệm của trí tuệ nhân tạo, khảo sát từ thực tiễn những cơ hội và thách thức khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học nói và nghe, chúng tôi đề xuất ra một số yêu cầu đối với ứng dụng trí tuệ nhân tạo, giúp giáo viên và học sinh biết khai thác hợp lí tiềm năng của các công cụ AI, góp phần làm cho việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học nói và nghe nói riêng trong nhà trường phổ thông đạt hiệu quả tốt hơn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 387
Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận giáo dục Toán học cho sinh viên ngành Kinh tế từ góc nhìn tri thức luận nhằm phát triển năng lực tư duy Toán học gắn với kinh tế, đây là năng lực thiết yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Trên cơ sở tổng hợp các lí thuyết tri thức luận cơ bản và vai trò của chúng trong giáo dục Toán học, nghiên cứu làm rõ cách người học tiếp nhận, xử lí và vận dụng tri thức Toán học vào các tình huống kinh tế. Với mục tiêu nghiên cứu tri thức luận trong giáo dục Toán học cho sinh viên kinh tế, bài viết cung cấp cho nhà nghiên cứu, sinh viên về khái niệm tư duy Toán học gắn với kinh tế, năng lực tư duy Toán học gắn với kinh tế và xác định năm thành tố cốt lõi của năng lực tư duy Toán học gắn với kinh tế. Kết quả cung cấp khung lí thuyết, định hướng giáo viên tìm tòi các tình huống có vấn đề kinh tế thông qua các đối tượng trừu tượng của tư duy Toán học, các quy luật trừu tượng về lượng. Từ kết quả nghiên cứu, giúp giáo viên khai thác và phát triển các thành tố của năng lực tư duy Toán học gắn với kinh tế thông qua hoạt động giải quyết vấn đề trong các tình huống thực tiễn có vấn đề kinh tế.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 432
Nghiên cứu này hệ thống hóa khung lí thuyết về đánh giá hoạt động thực hiện Chương trình Giáo dục địa phương ở trường tiểu học nhằm khắc phục tình trạng thiếu thống nhất về tiêu chí và quy trình đánh giá trong bối cảnh giáo dục Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích lí luận kết hợp tổng quan có hệ thống các mô hình đánh giá, bao gồm Tyler, Kirkpatrick, CIPP và Responsive Evaluation. Kết quả nghiên cứu xác định bốn nhóm tiêu chí đánh giá: 1) Mục tiêu rõ ràng, phù hợp và khả thi; 2) Nội dung phản ánh đặc thù địa phương, có tính cập nhật; 3) Quá trình triển khai khoa học, linh hoạt, có sự tham gia của giáo viên, học sinh và cộng đồng; 4) Kết quả về năng lực, phẩm chất của học sinh và tác động đối với cộng đồng. Quy trình đánh giá gồm năm bước: xác định mục tiêu và phạm vi, xây dựng công cụ và kế hoạch, thu thập dữ liệu đa nguồn, phân tích - tổng hợp thông tin, phản hồi và điều chỉnh. Khung đánh giá này vừa đảm bảo tính khoa học, vừa thích ứng với bối cảnh thực tiễn. Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lí luận cho đánh giá hoạt động thực hiện Chương trình Giáo dục địa phương, đồng thời mang lại định hướng thực tiễn cho cán bộ quản lí và giáo viên trong việc nâng cao chất lượng triển khai chương trình ở các trường tiểu học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 654
Trong những năm gần đây, việc tích hợp trí tuệ nhân tạo vào giáo dục đã trở nên phổ biến, với ngày càng nhiều ứng dụng trong giảng dạy kĩ năng viết tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) và tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL). Trong khi các tổng quan trước đây chủ yếu tập trung vào những hệ thống đánh giá viết tự động truyền thống, nghiên cứu này tiến hành một tổng hợp 18 công trình đã được bình duyệt, công bố trong giai đoạn 2020 - 2025, về việc sử dụng công cụ đánh giá tự động và công cụ trí tuệ nhân tạo trong việc đánh giá phản hồi bài viết tiếng Anh cho người học. Việc lựa chọn và phân tích các nghiên cứu được lựa chọn và phân tích tuân theo khung PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses) nhằm bảo đảm tính minh bạch phương pháp và độ chặt chẽ học thuật. Kết quả cho thấy, trí tuệ nhân tạo góp phần nâng cao hiệu quả dạy viết thông qua việc cung cấp phản hồi tức thì và cá nhân hóa, mở rộng gợi ý phát triển ý tưởng cũng như hỗ trợ năng lực tự chủ của người học. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong việc xử lí các kĩ năng bậc cao như tính mạch lạc, lập luận và tư duy phản biện. Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp công nghệ với phản hồi từ giáo viên và bạn học. Bằng cách làm rõ điểm mạnh và hạn chế của trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu này không chỉ mở rộng các tổng quan trước đó mà còn đưa ra những hàm ý cụ thể về mặt nghiên cứu, sư phạm và chính sách nhằm tích hợp hiệu quả cả hệ thống đánh giá viết tự động truyền thống và trí tuệ nhân tạo tạo sinh vào giảng dạy viết tiếng Anh.