Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,745
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công nghệ quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông. Bài viết phân tích kết quả khảo sát thực trạng ứng dụng AI trong dạy và học môn Địa lí trên 633 học sinh và 126 giáo viên Địa lí trung học phổ thông từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI đã bắt đầu được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và học tập nhưng mức độ sử dụng còn phân hóa, với một số giáo viên và học sinh tiếp cận thường xuyên, trong khi nhiều người còn gặp khó khăn về công nghệ và thiếu tài nguyên hỗ trợ. Dù AI mang lại nhiều lợi ích như tăng hứng thú học tập, phát triển tư duy phản biện, nhưng cũng tồn tại rủi ro như giảm khả năng tự học, tăng nguy cơ sao chép. Nghiên cứu khuyến nghị cần cải thiện nhận thức, đào tạo kĩ năng và tăng cường cơ sở hạ tầng công nghệ để tối ưu hóa hiệu quả khi ứng dụng AI trong dạy học Địa lí.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 9,743
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong giáo dục với khả năng cá nhân hóa việc học, hỗ trợ giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục. AI góp phần thúc đẩy công bằng giáo dục, đặc biệt với học sinh có nhu cầu đặc biệt và nâng cao khả năng tự học bằng cách phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định phù hợp. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI trong giáo dục cũng đặt ra nhiều lo ngại như gian lận, giảm tương tác, rủi ro bảo mật và bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Các quốc gia trên thế giới đã đưa xây dựng khung năng lực trí tuệ nhân tạo và tích hợp AI vào chương trình quốc gia. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu bước đầu ứng dụng AI trong giáo dục, tuy nhiên vẫn thiếu quy định, hướng dẫn sử dụng và tích hợp AI vào chương trình giáo dục phổ thông. Nghiên cứu này nhằm đề xuất Khung năng lực AI dành cho học sinh phổ thông phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng gợi ý các cách ứng dụng AI trong quá trình học tập của học sinh. Kết quả nghiên cứu này là nguồn thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà quản lí giáo dục, các nhà giáo dục sử dụng hiệu quả AI trong bối cảnh nhà trường phổ thông.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,236
Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong dạy học của 316 giáo viên tiểu học tại vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Kết quả cho thấy, đa số giáo viên đã có nhận thức ban đầu về khái niệm giáo dục kĩ năng công dân số nhưng chưa đầy đủ và chính xác. Hầu hết giáo viên đánh giá việc tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số vào dạy học ở tiểu học là cần thiết, với nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt, khi tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí là rất phù hợp và đem lại nhiều lợi ích. Giáo viên triển khai tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong môn Lịch sử và Địa lí có nhiều thuận lợi từ các chính sách, cơ sở hạ tầng, nguồn lực đầu tư của nhà nước và địa phương; đã được tham gia nhiều lớp tập huấn nên có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Học sinh dễ dàng tiếp cận với thiết bị công nghệ và Internet; có thể khai thác và sử dụng kho học liệu khổng lồ về Lịch sử và Địa lí từ nhiều nguồn trực tuyến thông qua các phần mềm khác nhau.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 725
Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, có nhiều phần mềm hỗ trợ giáo viên trong việc dạy học khám phá các nội dung của Toán học. Trong đó, phần mềm GeoGebra là phần mềm toán học động có nhiều ưu điểm nổi trội như minh họa trực quan, biểu diễn, dự đoán kết quả, tạo vết, di chuyển hình, mô tả các thí nghiệm toán học, bảng tính… Việc khai thác các ưu điểm của phần mềm GeoGebra cho phép tạo ra các mô hình đáp ứng những yêu cầu riêng biệt trong dạy học. Bài viết tập trung nghiên cứu tính năng phần mềm toán học động (Dynamic Mathematics Software) của GeoGebra nhằm thiết kế mô hình dạy học và tổ chức dạy học khám phá nội dung thống kê cho học sinh lớp 8. Cụ thể, bài viết đưa ra quan điểm cũng như quy trình thiết kế mô hình và cách thức tổ chức dạy học khám phá cho học sinh lớp 8 nhằm giúp học sinh phát triển tư duy, tính tích cực trong học tập Toán. Chúng tôi hi vọng rằng, những kết quả nghiên cứu cùng với sản phẩm toán học động sẽ là công cụ hỗ trợ giúp giáo viên dạy tốt mạch kiến thức thống kê, tạo sự quan tâm và hứng thú cho học sinh trong học Toán.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 902
Phát triển năng lực tự học, tạo điều kiện cho người học có thể học tập suốt đời là một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình Giáo dục phổ thông. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích lí thuyết để làm rõ tác động của mô hình lớp học đảo ngược đối với năng lực tự học của người học, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực tự học và năng lực đặc thù của môn Giáo dục công dân. Từ đó, bài viết rút ra kết luận về những lợi ích của mô hình này trong việc phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 463
Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai ở bậc Đại học ở Việt Nam không chỉ là một xu hướng mà còn là một nhu cầu tất yếu để phát triển giáo dục, kinh tế và xã hội. Đã có nhiều bài viết về việc dạy và học các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trình độ tiếng Anh của các thí sinh dự thi tốt nghiệp Trung học phổ thông cũng như chính sách tuyển dụng giảng viên nhằm thực hiện hóa chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai ở bậc Đại học ở Việt Nam. Dựa vào kết quả điểm thi môn tiếng Anh trong các kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông từ năm 2017 đến nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, bằng phương pháp thống kê toán học bài viết này đã chỉ ra rằng: điểm thi trung bình môn Tiếng Anh hằng năm có xu hướng tăng và dự báo năm 2025 có thể đạt khoảng 5.8 điểm và năm 2026 là hơn 6 điểm; trình độ tiếng Anh giữa các nhóm thí sinh có nhiều khác biệt và sự khác biệt này có xu hướng giảm nhẹ; số lượng thí sinh dự thi môn Tiếng Anh trong các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông có xu hướng năm sau tăng hơn năm trước. Bằng phương pháp tổng hợp các thông báo tuyển dụng giảng viên của các trường đại học, bài viết chỉ ra rằng, các trường đại học ở Việt Nam đã có chính sách tuyển dụng giảng viên có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh nhằm phục vụ cho lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,133
Trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo, hoạt động đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra đóng vai trò thiết yếu, giúp các cơ sở giáo dục đại học xác định và cải tiến chất lượng chương trình. Đây là yêu cầu cốt lõi trong các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, cả trong nước lẫn quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam, việc triển khai hoạt động đánh giá để đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra vẫn được xem là hoạt động mới và có nhiều thách thức trong việc thực hiện. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để tóm tắt, so sánh các yêu cầu về hoạt động đánh giá để đo lường mức độ đạt chuẩn đầu ra của một số bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo trong và ngoài nước, hệ thống một số nghiên cứu có đề cập đến thách thức của việc thực hiện hoạt động này trên thực tế đối với các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Bài viết góp phần mở rộng thêm hiểu biết lí luận trong lĩnh vực đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo trình độ đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 641
Trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông tại Việt Nam, hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo giáo viên trong việc trang bị cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên Trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát từ 239 sinh viên và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố ảnh hưởng chính. Kết quả cho thấy có ba nhân tố chính tác động đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên: 1) Tính chủ động và tích cực của sinh viên, 2) Môi trường học tập và điều kiện hỗ trợ, 3) Sự hướng dẫn và hỗ trợ của giảng viên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tính chủ động của sinh viên, cải thiện chất lượng môi trường học tập và tăng cường vai trò hỗ trợ của giảng viên trong quá trình đào tạo. Những khuyến nghị này nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng và năng lực của sinh viên trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả trong lớp học tương lai. Nghiên cứu mang đến những gợi ý giá trị cho các chương trình đào tạo giáo viên, người xây dựng chương trình và các nhà hoạch định chính sách giáo dục đang hướng tới việc tăng cường giáo dục trải nghiệm và chuẩn bị đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 554
Nghiên cứu trình bày cơ sở lí luận và thực tế về hoạt động quản lí chương trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh tiếp cận AUNQA của Trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Bình Dương. Nghiên cứu được khảo sát trên 250 cán bộ quản lí, giảng viên, sinh viên và cựu sinh viên. Kết quả khảo sát theo hướng tiếp cận trên cho thấy, nhà trường đã triển khai khá đầy đủ trên 8 tiêu chẩn của AUN-QA và đã có những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, công tác vẫn còn những hạn chế nhất định về các hoạt động như: Xây dựng chuẩn đầu ra, nội dung chương trình đào tạo, giảng dạy và học tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, cơ sở vật chất và trang thiết bị… Qua đó, nghiên cứu đã đề xuất 08 nhóm giải pháp có giá trị.