Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 808
Công nghệ thông tin ngày càng được giáo viên quan tâm và ứng dụng trong dạy học, tuy nhiên việc sử dụng vẫn còn nhiều thách thức. Bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán tại một số trường trung học phổ thông thuộc một số tỉnh khu vực phía Bắc. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số giáo viên có kĩ năng công nghệ thông tin ở mức cơ bản, nhưng khả năng sử dụng các phần mềm chuyên biệt cho môn Toán còn hạn chế. Phần mềm trình chiếu được sử dụng phổ biến, trong khi các phần mềm hỗ trợ dạy học môn toán có mức độ sử dụng thấp hơn. Các yếu tố như giới tính, kinh nghiệm công tác ảnh hưởng đến mức độ sử dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về mức độ sử dụng công nghệ thông tin giữa giáo viên ở các các khu vực thành thị, nông thôn và vùng núi. Các yếu tố về con người, nguồn lực như thái độ và kĩ năng công nghệ thông tin của giáo viên, sự hỗ trợ và khả năng tiếp cận công nghệ thông tin có ảnh hưởng tới mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, góp phần cải thiện chất lượng giảng dạy môn Toán trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 446
Cảm xúc đóng vai trò rất quan trọng trong lớp học, không chỉ ảnh hưởng đến sự hạnh phúc và chất lượng giảng dạy của giáo viên mà còn tác động đến sự tham gia cũng như kết quả học tập của học sinh và môi trường giáo dục tổng thể. Mặc dù cảm xúc của giáo viên là một khía cạnh thiết yếu nhưng cho tới thời điểm hiện tại có rất ít nghiên cứu tập trung vào chủ đề cảm xúc của giáo viên trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Bài tổng quan tìm hiểu các nghiên cứu xuất bản gần đây về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh. Cụ thể, bài viết trình bày các khái niệm về cảm xúc và cảm xúc của giáo viên; các hướng tiếp cận nghiên cứu; các khung lí thuyết phổ biến (bao gồm: Hệ thống sinh thái, Địa lí cảm xúc, Cảm xúc thành tích, Đánh giá và Tiếp cận phê phán); các yếu tố tác động đến cảm xúc của giáo viên (bao gồm các yếu tố cá nhân, ngữ cảnh và năng lực cảm xúc); các hướng nghiên cứu phổ biến; đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai. Bài viết này cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh ở Việt Nam.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 485
Giáo dục quốc tế đã và đang được nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển chú trọng bởi nhiều lợi ích mang lại về kinh tế, chính trị và ngoại giao. Bài viết nhằm tìm hiểu chiến lược phát triển giáo dục quốc tế ở các quốc gia Canada, Úc và Trung Quốc. Mỗi quốc gia có các định hướng, chiến lược khác nhau để phát triển lĩnh vực này phù hợp với các mục đích và tham vọng của mình, thể hiện qua các chính sách liên quan không chỉ tới giáo dục (đảm bảo chất lượng giáo dục, đa dạng hóa chương trình, nội dung, hình thức giáo dục,...) mà còn tới các lĩnh vực khác như di trú, lao động việc làm,... Đây là những bài học kinh nghiệm thực tiễn để Việt Nam có thể tham khảo điều chỉnh các chính sách phát triển giáo dục phù hợp hơn, khai thác tốt hơn lợi ích của giáo dục quốc tế.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 406
Mục đích của nghiên cứu là xây dựng và cải thiện mô hình liên kết giữa nhà trường và cơ sở thực hành trong đào tạo ngành giáo dục đặc biệt tại Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội. Nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề như thiếu phối hợp giữa các bên, thiếu cơ sở vật chất và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả hợp tác. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát qua phiếu hỏi, phỏng vấn sâu với giảng viên và sinh viên, quan sát thực tế và đánh giá sản phẩm học tập của sinh viên. Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy, phát triển kĩ năng chuyên môn là mục tiêu quan trọng nhất trong thực tập, tiếp theo là khả năng thích ứng, còn kĩ năng mềm ít được ưu tiên. Ngoài ra, những khó khăn về cơ sở vật chất và thiếu nhân lực hướng dẫn được ghi nhận. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như phát triển chương trình đào tạo kết hợp lí thuyết và thực hành, tăng cường đào tạo giảng viên và thiết lập cơ chế phản hồi hiệu quả giữa các bên để nâng cao chất lượng thực hành và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành Giáo dục đặc biệt của nhà trường.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 404
Động vật hoang dã suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động của con người đã gây ra nhiều hệ lụy đối với ngôi nhà chung của con người. Bảo vệ động vật hoang dã không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tập thể mà là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta. Giáo dục bảo vệ động vật hoang dã là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của công dân trong việc bảo vệ động vật ngoài tự nhiên. Bài viết phân tích thực trạng về giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông tại Tây Nguyên, nghiên cứu điển hình tại Lâm Đồng và Đắk Lắk. Từ đó, tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản lí, các nhà giáo dục, tổ chức môi trường đưa ra giải pháp thiết thực trong việc cải thiện hiệu quả giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 464
Trong Chương trình Ngữ văn 2018, yếu tố người kể chuyện trong truyện kể là một nội dung quan trọng trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện, xuất hiện xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 12. Theo lí thuyết tự sự học, người kể chuyện là một hình tượng được hư cấu trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, có vai trò to lớn trong nghệ thuật tự sự của một truyện kể. Các yếu tố cơ bản của người kể chuyện là ngôi kể, điểm nhìn và lời kể. Hiện nay, các vấn đề lí luận về người kể chuyện vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất nhưng Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 2018 đã lựa chọn những kiến thức phù hợp nhất với người học để đưa vào dạy học. Bằng phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn, bài viết đưa ra một số trao đổi và gợi ý dạy học về nội dung người kể chuyện trong truyện kể theo yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018, được triển khai theo ba yếu tố cơ bản của người kể chuyện: ngôi kể, lời kể và điểm nhìn của người kể chuyện.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 618
Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học là vấn đề đã được quan tâm từ lâu trong lịch sử giáo dục. Tuy nhiên, khi lượng thông tin toàn cầu ngày càng trở lên khổng lồ và con người dễ dàng tiếp cận với mọi nguồn thông tin thì việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ngày càng quan trọng vì có như vậy học sinh mới không bị phụ thuộc vào thông tin sẵn có mà mất đi sự sáng tạo. Trong dạy học Toán ở trường phổ thông, mỗi nội dung dạy học đều có những cơ hội để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, nhưng vấn đề đặt ra là liệu giáo viên có hiểu biết về tư duy sáng tạo cũng như tìm được các giải pháp để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh hay không. Do vậy, bài viết tổng hợp một số vấn đề cơ sở lí luận về tư duy sáng tạo cũng như đề xuất một số biện pháp để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua dạy học một số định lí Hình học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 770
Trong mô hình lớp học đảo ngược, học liệu điện tử là công cụ hỗ trợ quan trọng, giúp học sinh tiếp cận kiến thức linh hoạt và nâng cao trải nghiệm học tập cá nhân. Sử dụng phương pháp điều tra và thống kê toán học, nghiên cứu này đánh giá thực trạng xây dựng và sử dụng học liệu điện tử hỗ trợ dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4 theo mô hình lớp học đảo ngược tại các trường tiểu học thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Kết quả cho thấy, mô hình lớp học đảo ngược đã và đang được triển khai với nhiều tiềm năng tích cực nhưng vẫn còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc phát triển và khai thác các loại học liệu điện tử. Các giáo viên đánh giá cao hiệu quả của mô hình này, tuy nhiên họ gặp khó khăn trong việc thiết kế cũng như tích hợp học liệu điện tử có tính tương tác cao vào quá trình dạy học do hạn chế về năng lực thiết kế, khó khăn trong việc tiếp cận tài nguyên số chất lượng cao, sự thiếu đồng bộ trong hỗ trợ kĩ thuật và cơ sở vật chất. Các kết quả sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng cho các định hướng nâng cao hiệu quả việc ứng dụng học liệu điện tử hỗ trợ dạy học Lịch sử và Địa lí lớp 4 theo mô hình lớp học đảo ngược.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 524
Phim hoạt hình là một phương tiện giáo dục độc đáo, mang đến trải nghiệm học toán mới mẻ, tích cực. Nội dung bài viết khái quát một số lí luận cơ bản về phim hoạt hình hỗ trợ dạy học theo hướng kết nối thực tiễn, xây dựng nguyên tắc và quy trình thiết kế một phim hoạt hình với sự hỗ trợ của công nghệ số, các phần mềm và công cụ AI. Dựa vào quy trình đó, tóm tắt quá trình thiết kế và xây dựng phim hoạt hình cho bài “Bảng nhân 6” trong Chương trình Toán lớp 3 nhằm hỗ trợ hoạt động dạy học của giáo viên, kích thích sự hứng thú của học sinh và đa dạng học liệu. Sau đó tiến hành hành thực nghiệm phim hoạt hình vừa thiết kế, đồng thời thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của phim hoạt hình “Bảng nhân 6” trong thực tế. Kết quả thực nghiệm cho thấy, phim hoạt hình đáp ứng được yêu cầu bài học, gây được sự hứng thú của học sinh và đánh giá cao từ giáo viên. Điều này cho thấy, phim hoạt hình được thiết kế thật sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 511
Trong những năm gần đây, dạy học hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học là một trong những vấn đề được tập trung bàn tới. Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu về lí thuyết học tập trải nghiệm của David A. Kolb và ứng dụng vào tổ chức dạy học Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cho học sinh lớp 12. Bằng phương pháp phân tích định tính kết hợp với mô tả, khái quát hóa, nghiên cứu áp dụng quy trình 4 bước thực hiện hoạt động học tập trải nghiệm của học sinh khi tổ chức dạy học viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện. Thông qua áp dụng quy trình dạy học theo lí thuyết học tập trải nghiệm này, học sinh có cơ hội bày tỏ ý kiến, phát triển tư duy. Có thể nói, dạy học theo hướng này bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh, gắn lí thuyết và thực hành, trải nghiệm cho học sinh; từng bước nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.