Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,416
Đánh giá dựa trên Chuẩn cũng như xây dựng chương trình phát triển năng lực đã và đang trở thành xu hướng trên thế giới. Ở Việt Nam, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được ban hành theo tiếp cận phát triển năng lực. Hiện nay, Chuẩn đánh giá năng lực nhằm hỗ trợ hiệu quả cho quá trình tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa được ban hành. Với yêu cầu xây dựng Chuẩn đánh giá năng lực, bằng phương pháp chuyên gia, nhóm nghiên cứu đã vận dụng các lí thuyết và kinh nghiệm quốc tế để đưa ra một số định hướng xây dựng Chuẩn đánh giá trong môn Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử và Địa lí cấp Tiểu học. Bài viết đề cập đến cấu trúc năng lực đặc thù môn học thể hiện trong chương trình và xây dựng các mức độ đạt được của yêu cầu cần đạt (Chuẩn đánh giá năng lực). Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng Chuẩn đánh giá năng lực nhưng hi vọng những vấn đề được đề cập đến sẽ là một điểm tham chiếu cho các nghiên cứu sau này
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,124
Trong những năm qua, Thành phố Hà Nội nói riêng và phạm vi toàn quốc nói chung đã rất chú trọng công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng cao. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với cấp Trung học cơ sở đã đặt ra nhiều yêu cầu cho hoạt động đánh giá và quản lí hoạt động đánh giá giáo viên, đặc biệt là đánh giá giáo viên theo tiếp cận năng lực. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động đánh giá giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Hà Nội theo hướng tiếp cận năng lực, với các nội dung: thực trạng quản lí lực lượng tham gia đánh giá, thực trạng cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá, thực trạng quản lí quy trình đánh giá, thực trạng quản lí quá trình đánh giá và thực trạng sử dụng kết quả đánh giá giáo viên. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản lí hoạt động đánh giá, phát triển năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,430
Phát triển hệ thống các trường phổ thông tư thục và xã hội hóa giáo dục là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và của Thủ đô Hà Nội. Trong những năm qua, hệ thống các trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đã được thành phố quan tâm và phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được nhu cầu học tập của số lượng học sinh sau khi hoàn thành Chương trình Giáo dục trung học cơ sở. Mặc dù vậy, mặt bằng chung về chất lượng giáo dục giữa các trường trung học phổ thông tư thục và trường trung học phổ thông công lập vẫn còn một khoảng cách lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản là đội ngũ nhà giáo chưa được ổn định, đặc biệt là năng lực giáo dục và dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Vì vậy, đề xuất được các giải pháp quản lí đội ngũ giáo viên theo tiếp cận năng lực sẽ giúp khắc phục được những hạn chế trên, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Thủ đô nói chung, giáo dục trung học phổ thông nói riêng. Trên cơ sở các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và số liệu về thực trạng đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông tư thục Hà Nội, bài viết đề xuất một số giải pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông tư thục Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế trong bối cảnh hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,138
Triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm qua đã đạt được kết quả nhất định. Để có được kết quả đó, các tỉnh đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các tỉnh ở khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học để đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bài viết đánh giá thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở 14 tỉnh thuộc khu vực, từ đó đưa ra một số giải pháp để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,371
Chuyển đổi số trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang là nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ. Chuyển đổi số quốc gia là một quá trình cần được triển khai một cách đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Trong mỗi cơ quan, đơn vị, việc chuyển đổi số cần được triển khai một cách đồng bộ ở tất cả các lĩnh vực hoạt động. Bài viết đề cập đến vấn đề chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo - một trong những hoạt động hết sức quan trọng của mỗi trường đại học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,539
Bài viết sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, khảo sát chiến lược học tập ngữ pháp tiếng Trung Quốc của 169 sinh viên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên có tần suất sử dụng chiến lược học tập ngữ pháp tiếng Trung Quốc ở mức cao, thứ tự từ cao đến thấp lần lượt là nhóm chiến lược xã hội - tình cảm, nhóm chiến lược nhận thức, nhóm chiến lược siêu nhận thức; Không tồn tại sự khác biệt trên phương diện giới tính, vùng miền trong việc sử dụng các nhóm chiến lược học tập ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngoài ra, cũng không tồn tại mối tương quan giữa kết quả học tập môn ngữ pháp và việc sử dụng các nhóm chiến lược học tập ngữ pháp tiếng Trung Quốc.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,150
Sự phát triển các ngành kinh tế mới tại Việt Nam đã gia tăng nhu cầu về đội ngũ nhân lực chất lượng cao để chọn lọc được nguồn nhân lực tương ứng giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng, trong đó công tác tuyển sinh chính là yếu tố cần được đảm bảo. Từ năm 2015 đến nay, việc tuyển sinh đại học qua các năm ngày càng có sự cải tiến và linh hoạt. Sự đa dạng hóa các phương thức tuyển sinh đã mang đến cho thí sinh nhiều cơ hội trúng tuyển khi đăng kí xét tuyển vào đại học. Tuy nhiên, chất lượng của công tác tuyển sinh là vấn đề cần được quan tâm. Để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động này, yêu cầu đặt ra là làm sao quản lí và kiểm soát được chất lượng của hoạt động này. Bài viết đề xuất việc xây dựng chu trình PDCA áp dụng cho công tác tuyển sinh đại học dựa trên cơ sở quy trình cải tiến chất lượng PDCA.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,028
Năng lực tự học được coi là một trong những tiêu chí của năng lực nghề nghiệp của sinh viên các trường sư phạm. Đã có một số nghiên cứu về năng lực tự học của sinh viên nói chung, tuy nhiên chưa có nghiên cứu về năng lực tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói riêng. Nghiên cứu sử dụng công cụ đo của Williamson, S.N. theo năm thành tố (Nhận thức, hoạt động học tập, chiến lược học tập, đánh giá, giao tiếp) với năm mức độ (Luôn luôn, thường xuyên, đôi khi, hiếm khi, không bao giờ). Kết quả phân tích thống kê và nhân tố cho thấy năng lực tự học của sinh viên ở năm thành tố đều đạt mức thường xuyên; Kết quả học tập (điểm GPA) có ảnh hưởng bởi hai thành tố nhận thức và hoạt động học tập. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để giảng viên có giải pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 904
Bài viết trình bày các khái niệm về liên thông trong giáo dục nghề nghiệp và liên thông trong giáo dục đại học, các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai phân hệ này trong các văn bản pháp lí hiện hành. Nghiên cứu đã tìm hiểu hoạt động đào tạo liên thông của 224 cơ sở giáo dục đại học qua khảo sát các thông tin cung cấp trên các trang thông tin điện tử và khảo sát trực tuyến về thực trạng hoạt động đào tạo liên thông từ giáo dục nghề nghiệp lên giáo dục đại học của 50 cơ sở giáo dục đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của đào tạo liên thông, nhu cầu tuyển sinh đào tạo liên thông đang tăng dần và hình thức đào tạo liên thông vừa học vừa làm được người học quan tâm. Tuy nhiên, một trong các khó khăn, bất cập khi triển khai đào tạo liên thông là việc xác định và công nhận giá trị chuyển đổi hoặc kết quả học tập được miễn trừ của người có nguyện vọng tham gia đào tạo liên thông. Bài viết đề xuất cần có nghiên cứu sâu hơn nhằm đánh giá tác động của chính sách liên thông từ giáo dục nghề nghiệp lên giáo dục đại học trong thực tiễn làm cơ sở đề xuất xây dựng chính sách phù hợp, đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của mọi người và thỏa mãn các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,042
Trung Quốc là đất nước có nền giáo dục truyền thống lâu đời và bền vững. Cho đến nay, nền giáo dục ấy vẫn không ngừng phát triển và liên tục được đổi mới. Tuy nhiên, những năm gần đây, việc học thêm các khóa bồi dưỡng năng khiếu cũng như gánh nặng bài tập đã gây ra những hậu quả đáng tiếc cho sự phát triển của học sinh cũng như giáo viên, các vụ tự tử của học sinh, rối nhiễu tâm lí thậm chí tâm thần liên tục xuất hiện trong thời gian vừa qua… Ngành Giáo dục liên tục đối mặt với việc giáo viên nghỉ việc do áp lực công việc (刘复兴,董昕怡, 2022). Trước thực trạng đó, tháng 7 năm 2021, trước khi bước vào năm học mới, Chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách 双减 (giảm kép) với mục đích giảm áp lực học tập cho học sinh bằng cách giảm bài tập về nhà và giảm học tập ngoài trường, nâng cao chất lượng giáo dục và đưa giáo dục trở lại với bản chất “vì người học” của nó. Điều này vô tình lại tạo ra một áp lực lớn cho giáo viên trước yêu cầu chất lượng giáo dục không đổi. Bài viết này thông qua nghiên cứu lí luận đã chỉ ra các biện pháp giảm áp lực/căng thẳng nghề nghiệp cho giáo viên Trung Quốc khi Chính phủ này thực hiện chính sách “giảm kép”. Trong đó, các biện pháp từ Chính phủ, cơ chế quản lí mang tầm vĩ mô đến các biện pháp đến từ địa phương, nhà trường và toàn xã hội đã cho chúng ta thấy một sự quyết tâm của Chính phủ nước này trong việc thực hiện giảm áp lực lao động cho giáo viên của họ. Những kinh nghiệm này cũng là bài học quý để Việt Nam có thể vận dụng trong quá trình đổi mới giáo dục hiện nay.