Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 859

Giáo viên luôn được xem là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh về vai trò của giáo viên trong việc ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của mình, giáo viên chịu tác động, ảnh hưởng từ nhiều đối tượng và các thành tố liên quan đến các hoạt động giáo dục, do đó có thể gặp nhiều những thách thức, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện đổi mới chương trình. Bài viết trình bày kinh nghiệm của một số nước trong giải quyết những thách thức và vấn đề đối với giáo viên khi thực hiện Chương trình mới, từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp giúp giáo viên Việt Nam vượt qua các thách thức để góp phần triển khai thành công Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,609

Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ hình thành cơ sở ban đầu của nội dung học vấn phổ thông, góp phần hình thành những yếu tố đầu tiên vô cùng quan trọng của một nhân cách hài hòa, toàn diện theo mục tiêu giáo dục đề ra. Đội ngũ giáo viên tiểu học là yếu tố trực tiếp thực hiện công tác dạy học. Vì vậy, hoạt động đào tạo đội ngũ này đóng vai trò quyết định tới chất lượng giáo dục. Trong phạm vi bài viết, tác giả làm rõ thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đào tạo giáo viên tiểu học ở các trường/khoa đại học sư phạm, từ đó có những định hướng cho công tác quản lí đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 925

Hoạt động đánh giá giáo viên nói chung và giáo viên trung học cơ sở nói riêng theo hướng tiếp cận năng lực có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Từ năm 2018, Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục của 11 quốc gia Đông Nam Á (SEAMEO) đã thống nhất xây dựng Khung năng lực cho giáo viên, gồm 4 năng lực cốt lõi với 12 năng lực chung, 31 năng lực trợ giúp và 136 mô tả thành công. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng hướng dẫn cụ thể khung năng lực này cho đội ngũ giáo viên từng cấp học. Trong bài, nhóm tác giả trình bày một số kết quả về thực trạng hoạt động đánh giá giáo viên trung học cơ sở Thành phố Hà Nội theo hướng tiếp cận năng lực với 6 nội dung: Thực trạng nhận thức về mức độ quan trọng của mục đích đánh giá giáo viên; Thực hiện các nội dung đánh giá; Thực trạng sử dụng các hình thức đánh giá; Thực trạng sử dụng các phương pháp đánh giá; Thực trạng thực hiện quy trình hoạt động đánh giá; Thực trạng về lực lượng tham gia đánh giá. Kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở xây dựng các giải pháp bồi dưỡng cho những giáo viên còn hạn chế về năng lực và nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,124

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa sự thoả mãn các nhu cầu trong công việc và động lực làm việc của giáo viên Tiểu học; Thông qua bảng câu hỏi tự thuật Self-Report, nhóm tác giả khảo sát lấy ý kiến của 91 giáo viên của các trường tiểu học thuộc 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An để tìm hiểu thực trạng động lực làm việc, mức độ thoả mãn các nhu cầu trong công việc và mối quan hệ giữa các yếu tố trên. Bài viết cũng thảo luận những kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực làm việc của cán bộ, giáo viên tiểu học.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,368

Trong vài năm trở lại đây, phương pháp so chuẩn đối sánh được sử dụng tại các cơ sở giáo dục đại học nhằm đánh giá thực trạng và được xem là một trong những công cụ để phục vụ trong việc bảo đảm và cải tiến chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp so chuẩn đối sánh giúp cho các cơ sở giáo đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học tư thục xác định được vị thế, tham gia gắn sao, gia tăng chỉ số xếp hạng trong hệ thống giáo dục đại học trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp so chuẩn đối sánh tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu này đã thu thập, phân tích và đề xuất những giải pháp để các cơ sở giáo dục đại học tư thục giải quyết những khó khăn trong việc so chuẩn đối sánh chất lượng giáo dục đại học hiện nay.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 5,288

Năng lực giao tiếp và hợp tác là một nhóm năng lực quan trọng được xem là một trong những giải pháp chủ yếu để con người chung sống, phát triển. Hình thành và phát triển nhóm năng lực này về bản chất là phát triển khả năng làm việc nhóm, khả năng tổ chức, quản lí, tương tác và làm chủ các mối quan hệ. Việc nghiên cứu năng lực giao tiếp và hợp tác là hoạt động quan trọng để thúc đẩy phát triển năng lực này. Trong bài viết này, nhóm tác giả đưa ra các nhận định của giáo viên trung học cơ sở về hoạt động giáo dục cũng như thực tiễn triển khai dạy học có hướng đến phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh thông qua môn Khoa học tự nhiên. Bước đầu làm cơ sở triển khai nghiên cứu và xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,659

Lòng biết ơn thuộc phạm trù cảm xúc - xã hội, là thuộc tính cá nhân quan trọng, giúp hình thành, phát triển toàn diện nhân cách của con người. Nhiều nghiên cứu cho thấy, lòng biết ơn đã xuất hiện ở trẻ mầm non. Đây là thời điểm thuận lợi để giáo dục lòng biết ơn cho trẻ với các phương thức khác nhau. Bằng cách hồi cứu tài liệu liên quan, bài viết trình bày khái quát kết quả nghiên cứu trên thế giới về giáo dục lòng biết ơn cho trẻ mầm non, từ đó định hướng một số vấn đề cần quan tâm ở các nghiên cứu tiếp theo.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,208

Thực hành tiếng Việt là một trong những nội dung dạy học trong môn Ngữ văn hiện nay. Giống như các nội dung đọc, viết, nói và nghe, dạy học Thực hành tiếng Việt cũng được tổ chức thông qua các hoạt động dạy học. Để tổ chức tốt các hoạt động này, rất cần một phương tiện, đó là bài tập. Giờ học Thực hành tiếng Việt nói riêng và Ngữ văn nói chung có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tập. Tuy nhiên, việc xây dựng bài tập để tổ chức tốt hoạt động dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố và là một thách thức đối với nhiều giáo viên. Bài viết nghiên cứu quan niệm, vai trò, yêu cầu, quy trình xây dựng bài tập trong dạy học nội dung Thực hành tiếng Việt nhằm giúp giáo viên nâng cao kĩ năng xây dựng bài tập để tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học nội dung này.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,297

Hội đồng trường của trường đại học chịu trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động và huy động nguồn lực cho trường đại học. Ngoài ra, hội đồng trường còn thực hiện giám sát các hoạt động của trường đại học, gắn trường đại học với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện các mục tiêu giáo dục và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng trường trong các cơ sở giáo dục đại học, góp phần quan trọng và quyết định đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trong giáo dục - đào tạo đại học, bảo đảm công bằng xã hội trên cơ sở phát huy cao nhất về vai trò và về những ưu điểm nổi trội trong hoạt động của hội đồng trường tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Trong bài, tác giả đi sâu tìm hiểu và đánh giá thực trạng về hội đồng trường của các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm pháp nhằm thúc đẩy hoạt động hiệu quả của hội đồng trường của các trường đại học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo đại học ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,982

Môi trường học tập là vấn đề mà giáo dục hiện đại rất quan tâm bởi những tác động mạnh mẽ của nó đến hiệu quả giáo dục nói chung và hoạt động dạy và học nói riêng. Việc nhận thức đúng đắn về môi trường học tập trong nhà trường là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát huy vai trò của nó. Nghiên cứu tiến hành tại Trường Đại học Quy Nhơn với khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lí giáo dục, sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục tiểu học và giảng viên tham gia giảng dạy ngành này đã ghi nhận được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức về khái niệm, vai trò, cấu trúc và yêu cầu của môi trường học tập trong nhà trường về cơ bản đã được đảm bảo. Tuy nhiên, một số vai trò quan trọng của môi trường học tập trong nhà trường chưa được nhìn nhận đúng mức cần được điều chỉnh.