[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2009). Chương trình Giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT đã được sửa đổi bởi Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT, Thông tư số 51/2020/ TT-BGDĐT).
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Mầm non. (2016 - 2023). Báo cáo tổng kết năm học 2016–2017; 2020 2021; 2021–2022; 2022–2023.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Mầm non. (2019, 2022). Báo cáo: Đánh giá trẻ 3–5 tuổi theo Thang đánh giá phát triển trẻ thơ khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP-ECDS).
[4] Chen, D., Chen, Y. & Chi, J. (2024). Early childhood teachers amid China’s curriculum reforms: From a literature review. International Journal of Child Care and Education Policy, 18(1), 8. https://doi. org/10.1186/s40723-024-00135-w.
[5] Chu Cẩm Thơ, Đặng Xuân Cương, Vũ Trường An, Vũ Thị Ngọc Minh & Nguyễn Thị Hương. (2023). Một đề xuất cho bộ tiêu chí đánh giá Chương trình Giáo dục mầm non của Việt Nam trong thời kì mới. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 19(1), 51–56. https:// doi.org/10.15625/2615-8957/12310109
[6] Coşkun Yaşar, G. & Aslan, B. (2021). Curriculum theory: A review study. International Journal of Curriculum and Instructional Studies (IJOCIS), 11(2). https:// doi.org/10.1016/j.ridd.2019.103433
[7] Karlsson, R. (2012). Children’s rights in the Swedish preschool: A study of children’s rights from the perspective of children and teachers. Early Child Development and Care, 182(7), 923–940.
[8] Kessler, S. & Castner, D. (2024). Curriculum theory and developmentally appropriate practice. International Journal of Early Years Education, 32(3), 565–579. https://doi.org/10.1080/09669760.2024.23 70845
[9] Lee, J., Lesley, E., Laura, L. & Karen, O. (2015). Teaching and learning about child rights: A study of implementation in 26 countries. Centre for Children’s Rights, Queen’s University Belfast & UNICEF.
[10] Lê Thị Luận & Vũ Thị Hương Giang. (2024). Kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam về tổ chức xây dựng và phát triển Chương trình Giáo dục mầm non theo định hướng giáo dục cảm xúc – xã hội. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 20(9). https://doi.org/10.15625/2615 8957/12410913
[11] Michael-Luna, S. & Castner, D. J. (2023). Curriculum theory and developmentally appropriate practice. Early Years. Advance online publication.
[12] Nguyễn Hồng Thuận & Phan Thị Hương Giang. (2023). Phát triển phẩm chất và năng lực cho trẻ mầm non theo các quan điểm giáo dục hiện đại. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 19(9). https://doi. org/10.15625/2615-8957/1231090
[13] Nguyễn Thị Thu Hà. (2023). Quan điểm tiếp cận năng lực trong xây dựng Chương trình Giáo dục mầm non. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 18(S3). https://doi.org/10.15625/2615-8957/12220311
[14] OECD. (2020). Starting strong V: Transitions from early childhood education and care to primary education. OECD Publishing.
[15] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. (2022). Báo cáo phân tích ngành Giáo dục Việt Nam 2011–2020.
[16] Wu, P. S. & Tan, C. (2021). A holistic model of competence: Curriculum reforms for pre-school education in Singapore. In Euro-Asian Encounters on 21st-Century Competency-Based Curriculum Reforms (pp. 211–227). Springer.
[17] Yang, W., Tesar, M. & Li, H. (2022). Childhood, curriculum, and culture in diverse contexts. ECNU Review of Education, 5(2), 209–218. https:// doi.org/10.1177/20965311221092039
[18] Zhang, H. & Chow, J. T. W. (2022). A literature review of the early childhood education: Developmentally appropriate practices (DAP) & strategies. International Journal of Sciences: Basic and Applied Research, 61(2), 179–191.

