Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 120
Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của nhận thức về giảng dạy thực hành nghề nghiệp đến hiệu quả học tập thực hành của sinh viên điều dưỡng. Dựa trên lí thuyết tự điều chỉnh học tập, chúng tôi giả thuyết rằng, mối quan hệ này được trung gian bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 226 sinh viên và cựu sinh viên ngành Điều dưỡng có kinh nghiệm đào tạo thực hành. Dữ liệu được phân tích bằng kĩ thuật Mô hình hóa phương trình cấu trúc Bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy, nhận thức về giảng dạy không có tác động trực tiếp đến hiệu quả học tập thực hành. Thay vào đó, mối quan hệ này được trung gian hoàn toàn bởi sự chuẩn bị học tập và năng lực nghề nghiệp. Cụ thể, nhận thức tích cực về giảng dạy thúc đẩy sinh viên chuẩn bị kĩ lưỡng cho các buổi thực hành và chính sự chuẩn bị này, đến lượt nó, lại nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ. Cuối cùng, cả sự chuẩn bị và năng lực đều có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hiệu quả học tập. Những phát hiện này cho thấy để cải thiện chất lượng đào tạo thực hành, các nhà giáo dục cần tập trung vào việc xây dựng nhận thức tích cực cho sinh viên về quá trình giảng dạy. Việc tạo ra một môi trường học tập có cấu trúc, khuyến khích sự chuẩn bị và phát triển năng lực chuyên môn, là chìa khóa để chuyển hóa thái độ tích cực thành kết quả học tập cụ thể.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 139
Trong bối cảnh chuyển đổi số, giáo dục STEM được xem là hướng tiếp cận then chốt nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên kĩ thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu triển khai riêng lẻ dạy học theo dự án (PBL) hoặc quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP), thiếu các mô hình tích hợp có hệ thống và được kiểm chứng trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm chứng mô hình i-STEM (PD) tích hợp PBL và EDP, thông qua việc xây dựng mô hình, triển khai dự án STEM trong kĩ thuật điện và đánh giá tác động đến kết quả học tập và năng lực sinh viên. Phương pháp hỗn hợp với thiết kế thực nghiệm bán đối chứng được áp dụng trên 50 sinh viên, chia thành nhóm thực nghiệm và đối chứng. Dữ liệu thu thập từ bảng hỏi, quan sát và đánh giá học tập, được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test. Kết quả cho thấy, mô hình i-STEM (PD) cải thiện có ý nghĩa năng lực giải quyết vấn đề và năng lực thiết kế kĩ thuật, đồng thời nâng cao mức độ tham gia và thái độ học tập. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và góp phần củng cố cơ sở lí luận, thực tiễn cho triển khai giáo dục STEM trong đào tạo kĩ thuật đại học tại Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 167

 
Kính gửi Quý Tác giả và bạn đọc,
 

Được sự quan tâm và tin tưởng của các tác giả, số lượng bản thảo gửi về công bố trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam tăng lên đáng kể. Kết quả thống kê 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, số bản thảo gửi về tăng 78% so với cùng kỳ năm ngoái.
 
Với tần suất xuất bản định kỳ mỗi tháng một số (mỗi số không quá 15 bài) sẽ không đáp ứng kịp thời nhu cầu minh chứng khoa học của các tác giả. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tác giả, đảm bảo nguyên tắc: thời gian chờ xuất bản của tất cả các bản thảo không quá 90 ngày (tính từ thời điểm bản thảo hoàn thành quy trình phản biện kín). Căn cứ số lượng bản thảo đã hoàn thiện quy trình phản biện đang lưu kho, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam sẽ xuất bản các số S xen kẽ các số thường kỳ. Số S1 là số S đầu tiên của năm 2026.

 
Trân trọng.
 

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 146
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục mầm non, kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ em giữ vai trò then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và gia đình. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng kĩ năng giao tiếp của giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ em tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua khảo sát 120 giáo viên, 60 cha mẹ trẻ em thuộc các cơ sở giáo dục công lập và tư thục. Kết quả cho thấy phần lớn giáo viên mầm non nhận thức rõ tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp với cha mẹ trẻ em, tuy nhiên kĩ năng thực hành còn hạn chế như lắng nghe tích cực, ứng xử linh hoạt và xử lí tình huống nhạy cảm. Những khó khăn chính bắt nguồn từ áp lực công việc, thiếu thời gian, khác biệt trong nhận thức giữa giáo viên và cha mẹ trẻ em, cùng với việc thiếu các chương trình bồi dưỡng về giao tiếp sư phạm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng và biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp với cha mẹ trẻ em cho đội ngũ giáo viên mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 139
Hiện nay, chuyển đổi số trong dạy học ở các trường đại học trong Quân đội là một xu thế tất yếu, đặc biệt trước nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết quả nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn chuyên sâu và khảo sát định lượng 200 giảng viên, học viên ở Trường Đại học Chính trị cho thấy: Dù có sự sẵn sàng cao về nhận thức, trách nhiệm và con người; nhưng hạ tầng công nghệ thiếu đồng bộ, tâm lí ngại đổi mới của một bộ phận giảng viên, những quy định đặc thù về bảo mật và an toàn thông tin, chưa có sự đột phá về phương pháp dạy học đang là những rào cản chuyển đổi số trong dạy học ở Nhà trường. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất 05 nhóm giải pháp gồm: Nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị; Tạo đột phá về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ; Bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ; Rà soát, điều chỉnh chính sách và quy định quản lí; Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ở nhà trường và có thể vận dụng cho các trường đại học khác trong Quân đội.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 120
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình hỗ trợ tích cực đối với thực hành nghề nghiệp của giáo viên mầm non khi hỗ trợ trẻ 18–36 tháng tuổi chậm nói trong lớp học hòa nhập. Thiết kế bán thực nghiệm theo mô hình đo lường trước – sau được áp dụng với 30 giáo viên tại 06 trường mầm non ở Hà Nội. Dữ liệu được thu thập thông qua phiếu hỏi cấu trúc và được kiểm chứng thông qua các nguồn thông tin bổ trợ nhằm tăng cường độ tin cậy của đánh giá về thực hành nghề nghiệp của giáo viên. Phân tích sử dụng kiểm định T-test mẫu phụ thuộc và hệ số ảnh hưởng. Kết quả cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê ở cả ba phương diện. Giáo viên nâng cao nhận thức về chậm nói, hiểu rõ hơn các chiến lược tương tác phản hồi và tăng cường thực hành tương tác có chủ đích. Kích thước ảnh hưởng đạt mức lớn đến rất lớn, phản ánh ý nghĩa thực tiễn mạnh mẽ. Nghiên cứu củng cố các tiếp cận can thiệp dựa trên tương tác và môi trường tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo viên trong thúc đẩy giao tiếp sớm. Kết quả cung cấp cơ sở cho việc nhân rộng chương trình trong giáo dục mầm non Việt Nam.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 126
Bài viết tập trung nghiên cứu năng lực xây dựng môi trường giáo dục an toàn của sinh viên ngành Giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Mục tiêu nhằm đánh giá thực trạng nhận thức, kĩ năng và thái độ của sinh viên đối với việc tạo lập môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện cho trẻ mầm non; đồng thời đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực này trong quá trình đào tạo. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp khảo sát, phỏng vấn và quan sát thực hành sư phạm đối với sinh viên tại một số cơ sở đào tạo giáo viên mầm non. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên có nhận thức đúng về vai trò của môi trường giáo dục an toàn, tuy nhiên kĩ năng nhận diện rủi ro và xử lí tình huống sư phạm còn hạn chế. Từ đó, bài viết kiến nghị tăng cường nội dung thực hành, mô phỏng tình huống và phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với trường mầm non thực hành, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 152
Bài viết trình bày việc dạy học chủ đề Ba đường conic (Elip, hypebol, parabol) ở Toán 10 theo hướng phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học cho học sinh, phù hợp với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu liên quan đến năng lực tư duy và lập luận Toán học, phân tích yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Toán và nghiên cứu nội dung chủ đề Ba đường conic, bài viết đề xuất ba biện pháp dạy học gồm: 1) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác phân tích, tổng hợp và lập luận Toán học; 2) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác khái quát hóa; 3) Thiết kế các tình huống dạy học để rèn luyện thao tác đặc biệt hóa. Các biện pháp được minh họa thông qua những tình huống dạy học cụ thể trong chủ đề Ba đường conic và góp phần phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học cho học sinh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 130
Mặc dù hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là nội dung giáo dục bắt buộc trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, hiện vẫn thiếu vắng các bằng chứng thực nghiệm về cơ chế hình thành ý định hành vi của học sinh tại các vùng miền núi và đa dân tộc. Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống đó bằng cách kiểm định cơ chế tác động của các yếu tố thuộc môi trường sư phạm và công nghệ đến sự hài lòng (SAT) và ý định hành vi (INT) của học sinh tại các trường phổ thông. Sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang, dữ liệu được thu thập từ 917 học sinh phổ thông tại các xã miền núi (tỉnh Sơn La và Thanh Hóa) và được phân tích thông qua mô hình cấu trúc PLS-SEM. Kết quả thực chứng chỉ ra rằng: Tính chân thực của bối cảnh (CA), Sự hỗ trợ tự chủ (CO), An toàn tâm lí (PS) và Sự hỗ trợ công nghệ (TE) đều là những tiền đề tích cực thúc đẩy Năng lực bản thân (SE) và Giá trị cảm nhận (PV). Trong đó, PS tác động mạnh nhất đến PV (β = 0,294), còn CO đóng vai trò dẫn dắt lớn nhất đến SE (β = 0,263). Đặc biệt, PV đóng vai trò là biến trung gian then chốt, chi phối trực tiếp và mạnh mẽ đến cả SAT (β = 0,520) và INT (β = 0,543). Nghiên cứu khẳng định rằng, việc kiến tạo một môi trường học tập an toàn và không mang tính áp đặt là chìa khóa để giúp học sinh nhận thức sâu sắc giá trị thực tiễn của bối cảnh giáo dục, từ đó tối ưu hóa sự gắn kết lâu dài.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 176
Nghiên cứu mô tả trải nghiệm học dựa trên dự án và mức tự đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của sinh viên đại học. Nghiên cứu được thiết kế theo hướng mô tả - khám phá, sử dụng dữ liệu bảng hỏi trực tuyến từ 1.200 sinh viên tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Công cụ khảo sát gồm thông tin nền, số học phần trong năm học gần nhất mà sinh viên tự nhận diện có tổ chức theo định hướng học dựa trên dự án, đánh giá của sinh viên về sáu thành tố thiết kế dự án và các thang tự đánh giá hai năng lực. Dữ liệu được xử lí bằng thống kê mô tả; nghiên cứu không kiểm định quan hệ nhân quả và không đo năng lực thực hành bằng sản phẩm học tập, quan sát lớp học hoặc đánh giá của giảng viên. Kết quả cho thấy, có sự khác biệt quan sát được giữa ba địa bàn. Thành phố Hồ Chí Minh có tỉ lệ sinh viên tham gia từ ba học phần có yếu tố dự án trở lên và tỉ lệ sinh viên đánh giá chất lượng trải nghiệm dự án ở mức cao lớn hơn; trong khi Huế có xu hướng thấp hơn ở một số chỉ báo mô tả. Các nhóm sinh viên có tần suất và mức độ hiện diện các thành tố thiết kế dự án cao hơn có xu hướng đi kèm với điểm tự đánh giá hai năng lực cao hơn trong mô tả dữ liệu. Kết quả này chỉ phản ánh xu hướng quan sát được từ dữ liệu tự báo cáo, chưa cho phép kết luận về quan hệ nhân quả hoặc mức độ tác động của học dựa trên dự án đối với năng lực thực hành của sinh viên.