Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 292
Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn mang tính cấp bách và được quan tâm hàng đầu, đặc biệt với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay. Bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của mỗi công dân. Giáo dục trách nhiệm với môi trường sống là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phẩm chất trách nhiệm cho học sinh và cần được thực hiện sớm ở các nhà trường. Ở tiểu học, giáo dục trách nhiệm với môi trường được thực hiện trong một số môn học và đặc biệt là Hoạt động trải nghiệm. Bài viết tập trung nghiên cứu lí luận phân tích khái niệm, mục tiêu, nội dung giáo dục trách nhiệm với môi trường sống cho học sinh lớp 4, lớp 5 thông qua Hoạt động trải nghiệm và nghiên cứu thực trạng trách nhiệm của học sinh lớp 4, lớp 5 với môi trường, từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục trách nhiệm với môi trường sống thông qua Hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 541
Học viên hệ Giáo dục thường xuyên thường phải chịu nhiều áp lực tâm lí, xã hội và học tập do có sự khác biệt về độ tuổi, hoàn cảnh và môi trường học so với học sinh ở trường phổ thông. Nghiên cứu này vận dụng mô hình PPDAC (Problem, Plan, Data, Analysis, Conclusion) nhằm giảm áp lực đồng trang lứa và nâng cao năng lực tự nhận thức, giúp học viên tự điều chỉnh cảm xúc cùng hành vi tích cực của học viên. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm được áp dụng theo thiết kế đo lường trước và sau can thiệp với 80 học viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên ở Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu thu được qua bảng khảo sát, nhật kí cảm xúc và phiếu tự đánh giá trước và sau can thiệp. Kết quả cho thấy nhận thức cá nhân, cảm xúc và hành vi của học viên cải thiện rõ rệt. Mô hình PPDAC chứng minh tính khả thi và hiệu quả trong giáo dục tâm lí học đường, giúp học viên hệ Giáo dục thường xuyên tự tin trong học tập và có kĩ năng xã hội tích cực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 274
Học sinh lớp 3 được yêu cầu viết đoạn văn biểu cảm để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của mình về các đối tượng như người thân, bạn bè, động vật, cảnh vật thiên nhiên, nhân vật trong truyện hoặc phim hoạt hình, thơ ca… Đây là nội dung dạy học mới của Chương trình môn Tiếng Việt 2018. Nội dung này tạo ra khoảng trống về phương pháp dạy học cụ thể nên giáo viên còn lúng túng khi dạy học sinh viết. Học sinh còn hạn chế khi viết như vốn từ vựng ít, thiếu sự trải nghiệm, chưa biết sử dụng ngôn ngữ biểu cảm… Bài báo nghiên cứu thực trạng (khảo sát, phân tích nguyên nhân hạn chế) về năng lực viết đoạn văn biểu cảm của học sinh lớp 3 tại phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Từ đó, bài báo đề xuất một số biện pháp dạy học (bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm thông qua hoạt động trải nghiệm…; hướng dẫn học sinh tìm ý, lập ý…; hướng dẫn học sinh kết nối kiến thức của hoạt động đọc hiểu, luyện từ và câu, nói và nghe để phát triển năng lực viết đoạn văn biểu cảm…) giúp giáo viên khắc phục khoảng trống về phương pháp dạy học và hình thành, phát triển năng lực viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh theo yêu cầu cần đạt của Chương trình Tiếng Việt.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 225

Nghiên cứu tập trung phân tích việc vận dụng mô hình PDCA trong quản lí hoạt động bồi dưỡng lí luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh Nghệ An nhằm nâng cao hiệu quả quản lí theo hướng cải tiến liên tục. Thực tiễn cho thấy quản lí hoạt động bồi dưỡng còn mang tính hành chính, thiếu liên kết theo chu trình và chưa khai thác hiệu quả các mô hình quản lí hiện đại. Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng định lượng, khảo sát 178 cán bộ quản lí, giảng viên và học viên; dữ liệu được thu thập qua bảng hỏi thang Likert, xử lí bằng phần mềm SPSS và kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha. Kết quả nghiên cứu cho thấy các khâu lập kế hoạch và kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả cao, trong khi khâu tổ chức thực hiện và cải tiến còn ở mức trung bình, phản ánh sự thiếu đồng bộ trong vận hành chu trình quản lí. Điều này khẳng định vai trò then chốt của công tác quản lí trong việc bảo đảm chất lượng bồi dưỡng lí luận chính trị, đồng thời nghiên cứu chỉ ra rằng, mô hình PDCA có ưu thế về tính hệ thống, tính linh hoạt và khả năng tạo lập cơ chế phản hồi, cải tiến liên tục, phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác quản lí hiện nay. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lí giáo dục, giảng viên và các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ theo hướng hiện đại và hiệu quả.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 300
Bài viết hướng vào phân tích tác động của ba nhóm nhân tố niềm tin Toán học đến động lực học tập môn Toán của học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam trong bối cảnh giáo dục di sản. Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện trên mẫu 184 học sinh tại Việt Nam với dữ liệu thu thập thông qua phiếu khảo sát gồm 28 mục theo 5 mức độ của thang Likert, đo lường các biến tiềm ẩn: Niềm tin vào bản thân, vào Toán học và dạy học Toán, vào bối cảnh xã hội và động lực học Toán trong bối cảnh giáo dục di sản. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha, tiến hành phân tích nhân tố khám phá và hồi quy đa biến để đánh giá mức độ tác động giữa các biến. Kết quả cho thấy mô hình nghiên cứu có độ phù hợp tốt, có ý nghĩa thống kê đối với động lực học Toán của học sinh. Trong đó, niềm tin vào bản thân và vào việc dạy học Toán là hai yếu tố dự đoán mạnh mẽ nhất. Kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách và giáo viên về sự cần thiết đưa các yếu tố di sản vào chương trình giảng dạy môn Toán để nâng cao niềm tin và thúc đẩy động lực học tập cho học sinh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 295
Nghiên cứu phân tích và đề xuất giải pháp triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong tại các cơ sở giáo dục đại học dựa trên việc đối sánh Khung đảm bảo chất lượng bên trong AUN-QA (phiên bản 3.0) với Lĩnh vực II thuộc Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT. Bằng phương pháp phân tích hệ thống bám sát bốn cấu phần chính của Khung đảm bảo chất lượng bên trong AUN-QA, nghiên cứu làm rõ các đặc trưng hệ thống và xác định mức độ tương thích giữa hai khung chất lượng. Kết quả cho thấy mức tương thích cao ở tầng chiến lược và đánh giá; tuy nhiên, sự tương thích còn hạn chế tại cơ chế cải tiến nội tại từng quy trình, văn hoá chất lượng và mức độ trưởng thành trong quản trị dữ liệu. Nghiên cứu đóng góp mới bằng cách đề xuất bộ chỉ báo 19 chỉ số hỗ trợ đánh giá năng lực vận hành then chốt của hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong, đồng thời nhấn mạnh việc chuẩn hóa quy trình vận hành và nâng cao năng lực quản trị dựa trên bằng chứng nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 309
Bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục đặt ra yêu cầu cấp thiết về năng lực tích hợp “Kiến thức Công nghê - Sư phạm - Nội dung” (TPACK) đối với giáo viên tiểu học. Tuy nhiên, thực tiễn đào tạo tại các trường sư phạm hiện nay vẫn tồn tại sự thiếu hụt các quy trình hướng dẫn bài bản để thiết kế các học phần nhằm hình thành năng lực này một cách có hệ thống, tránh tình trạng lồng ghép công nghệ một cách rời rạc. Bài báo nhằm giải quyết vấn đề trên bằng việc đề xuất một quy trình thiết kế đề cương chi tiết học phần dựa trên sự vận dụng mô hình TPACK. Bằng cách vận dụng phương pháp phân tích tài liệu phối hợp cùng nghiên cứu thiết kế và phát triển, một quy trình thiết kế gồm 04 bước đã được xây dựng: 1) Xác định chuẩn đầu ra tích hợp; 2) Xác định nội dung dạy học tích hợp công nghệ; 3) Thiết kế phương pháp dạy học tích hợp công nghệ; 4) Xây dựng hệ thống đánh giá tích hợp. Tính khả thi và giá trị khoa học của quy trình được minh chứng cụ thể thông qua nghiên cứu trường hợp thiết kế học phần “Ứng dụng công nghệ số trong dạy học Toán ở Tiểu học” tại Trường Đại học Nghệ An. Kết quả nghiên cứu cung cấp một khung hướng dẫn phương pháp luận khoa học, giúp các nhà phát triển chương trình chuyển hóa lí thuyết TPACK thành các sản phẩm đào tạo thực tiễn, góp phần nâng cao năng lực số cho sinh viên sư phạm.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 372
Trò chơi kĩ thuật số đang trở nên một công cụ triển vọng trong dạy học Toán trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp này trong thực tế vẫn còn hạn chế liên quan đến thái độ của giáo viên, trong đó tồn tại nhiều quan ngại đối với việc triển khai thực tế. Nghiên cứu trường hợp định tính này nhằm khám phá sự thay đổi trong thái độ của một giáo viên tiểu học trước và sau khi dự giờ bốn tiết dạy Toán có tích hợp trò chơi kĩ thuật số tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc trước - sau nhằm làm rõ những chuyến biến trong nhận thức, cảm xúc và hành vi của giáo viên. Kết quả cho thấy có sự chuyển biến tích cực rõ rệt ở nhận thức về tính hữu ích, tính dễ sử dụng và khả năng tiếp cận, từ đó khía cạnh cảm xúc cũng thay đổi tích cực. Tuy nhiên, các khó khăn như sự ủng hộ của các bên liên quan và cơ vật chất vẫn tồn tại dẫn đến thay đổi chưa rõ rệt về ý định hành vi. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm dự giờ thực tế và các chương trình tập huấn chuyên sâu trong việc thúc đẩy thái độ tích cực của giáo viên đối với việc tích hợp trò chơi kĩ thuật số trong dạy học Toán ở Tiểu học. Những phát hiện này góp phần cung cấp góc nhìn của giáo viên tiểu học, đồng thời hỗ trợ các nghiên cứu tiếp theo và định hướng chính sách nhằm thúc đẩy việc ứng dụng trò chơi kĩ thuật số trong dạy học Toán một cách hiệu quả.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 481

Bài viết thực hiện tổng quan tích hợp nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu về phát triển năng lực thẩm mĩ cho sinh viên đại học ngành Giáo dục mầm non thông qua hoạt động trải nghiệm. Dữ liệu tổng quan gồm 79 tài liệu khoa học được công bố từ năm 2000 - 2025, nhằm làm rõ khái niệm, cấu trúc, cách đánh giá và các mô hình phát triển năng lực thẩm mĩ; đồng thời nhận diện khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam. Kết quả tổng quan cho thấy: 1) Năng lực thẩm mĩ có cấu trúc đa thành tố (năng lực nhận biết các yếu tố thẩm mĩ, cảm thụ và đánh giá, sáng tạo và biểu đạt, thái độ); 2) Đánh giá cần kết hợp công cụ định lượng và định tính; 3) Các mô hình trải nghiệm hiệu quả gồm thực hành xưởng nghệ thuật, dự án liên môn, thực tập trong vai trò người hướng dẫn nghệ thuật và ứng dụng công nghệ. Trên cơ sở đối chiếu các xu hướng và khoảng trống nghiên cứu, bài viết nhấn mạnh nhu cầu cần xây dựng khung năng lực thẩm mĩ dành riêng cho giáo viên mầm non, phát triển công cụ đánh giá và thiết kế các mô hình trải nghiệm nghệ thuật phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục.