Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 469
Nghiên cứu này cung cấp tổng quan về khung AI-TPACK, một sự mở rộng của mô hình TPACK truyền thống, nhằm tích hợp trí tuệ nhân tạo vào giáo dục. Bài viết phân tích các thành phần cốt lõi của AI-TPACK và sự giao thoa của chúng để làm nổi bật tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức chuyên biệt cho giáo viên trong kỉ nguyên số. Bài viết chỉ ra rằng, việc ứng dụng khung này trong thực tế vẫn còn hạn chế và ở giai đoạn sơ khai, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo giáo viên Toán. Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy năng lực AI-TPACK của giáo viên còn ở mức trung bình và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như kinh nghiệm giảng dạy, kĩ năng số và sự tự tin. Bài viết cũng xác định một số khoảng trống nghiên cứu quan trọng ở Việt Nam liên quan đến chủ đề này.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 160

Nghiên cứu này là kết quả khảo sát 23 giảng viên và 261 sinh viên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch dựa trên yêu cầu đối với chương trình học phần được phát triển và điều chỉnh từ bộ công cụ của Mạng lưới Đại học ASEAN - Đảm bảo Chất lượng (AUN-QA). Trên cơ sở kết hợp xử lí dữ liệu câu hỏi mở đối với sinh viên về ưu điểm, hạn chế và mong muốn đối với học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch, bài báo đưa ra những đánh giá về thực trạng chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân các ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 219
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục mầm non và đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi theo yêu cầu tại Nghị quyết số 218/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (Nghị quyết số 218/2025/QH15). Thông qua phân tích các văn bản, báo cáo của các cơ quan quản lí nhà nước, thống kê tổng hợp, đánh giá những khó khăn thách thức của giáo dục mầm non cho thấy việc thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 218/2025/QH15 sẽ gặp những khó khăn, thách thức về mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư. Bài viết đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo từ 3 tuổi đến 5 tuổi. Những giải pháp này sẽ góp phần trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non trong giai đoạn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 144
Nghiên cứu này trình bày chi tiết về việc thiết kế và đánh giá ban đầu ‘VisuoGeometry - Trainer’, một hệ thống luyện tập hình học trực quan thích ứng dựa trên mô hình BKT (Knowledge Tracing theo Bayesian), nhằm giải quyết những khó khăn của học sinh lớp 7 trong việc học hình học trực quan tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu ưu tiên tính sư phạm, tích hợp một ngân hàng câu hỏi, gồm các thành phần kiến thức (Ví dụ: tính thể tích hình lăng trụ, nhận diện tính chất của hình lập phương) và sai lầm phổ biến (Ví dụ: nhầm lẫn giữa diện tích xung quanh và thể tích, diễn giải sai hình biểu diễn 2D của vật thể 3D); một mô hình người học dựa trên BKT, nhằm theo dõi hiệu suất trên từng kĩ năng và một cơ chế thích ứng minh bạch, vận hành bởi mô hình BKT được thiết kế nhằm mô phỏng các quyết định của giáo viên. Kết quả chính từ một nghiên cứu thử nghiệm trên 8 học sinh cho thấy, thiết kế của hệ thống có hiệu quả trong việc cá nhân hóa lộ trình học, xác định thành công trong việc xác định điểm yếu cá nhân và điều chỉnh độ khó theo thời gian thực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 172
Trong những năm gần đây, việc tích hợp công nghệ số vào giáo dục mầm non, đặc biệt là trong các hoạt động giáo dục STEAM của mầm non đã thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà giáo dục và nhà nghiên cứu. Các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu đã khám phá tiềm năng của công nghệ nhằm nâng cao chất lượng học tập, gia tăng sự hứng thú của người học. Nghiên cứu của nhóm tác giả nhằm làm rõ thực trạng về lợi ích và tính khả thi khi ứng dụng công nghệ số trong hoạt động giáo dục STEAM của giáo viên mầm non. Phương pháp nghiên cứu định lượng đã được áp dụng thông qua việc sử dụng bảng hỏi với 421 giáo viên mầm non tại các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai nhóm giáo viên (giáo viên mầm non ở các trường đạt chuẩn quốc gia và giáo viên mầm non ở các trường mầm non không đạt chuẩn quốc gia) đều có quan điểm tích cực chung về lợi ích và tính khả thi của công nghệ số trong giáo dục STEAM. Tuy nhiên, nhóm giáo viên tại các trường đạt chuẩn quốc gia thể hiện cái nhìn tích cực hơn một chút về việc ứng dụng công nghệ. Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ thực trạng và các yếu tố tác động đến việc ứng dụng công nghệ số trong giáo dục STEAM, từ đó cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn cho các giải pháp cải thiện và phát triển việc sử dụng công nghệ trong giáo dục mầm non.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 334

Nghiên cứu này nhằm tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước về tác động của mạng xã hội đối với giáo dục và quản lí giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phổ biến của công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống học sinh, vừa mang đến những cơ hội phát triển vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại. Bằng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu từ Google Scholar và Scopus, nghiên cứu đã hệ thống hóa 25 nguồn tài liệu tiêu biểu, đồng thời sử dụng kĩ thuật phân tích đồng xuất hiện từ khóa để nhận diện các xu hướng và chủ đề nghiên cứu chính. Kết quả cho thấy, mạng xã hội có những tác động tích cực như hỗ trợ học tập, phát triển kĩ năng số, hình thành năng lực công dân số, tạo không gian giáo dục giá trị và đạo đức, cũng như tăng cường sự kết nối giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Tuy nhiên, song song với đó là hàng loạt hệ lụy tiêu cực bao gồm gia tăng bạo lực mạng, suy giảm kết quả học tập, tha hóa đạo đức, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và nguy cơ lệ thuộc vào công nghệ. Từ những kết quả này, nghiên cứu khẳng định rằng mạng xã hội là môi trường hai mặt, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với công tác giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh phổ thông.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 176
Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đang đòi hỏi các nhà quản lí giáo dục phải đổi mới nhận thức, tư duy và phương pháp quản lí theo hướng hiệu quả và chất lượng. Trường công lập chất lượng cao theo hướng tự chủ là mô hình nhà trường hiện đại, quá trình triển khai bước đầu đã khẳng định được ưu thế và uy tín trong xã hội. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn để làm rõ những vấn đề lí luận về phát triển trường mầm non công lập chất lượng cao theo hướng tự chủ; khảo sát, đánh giá thực trạng trường mầm non công lập chất lượng cao theo hướng tự chủ trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển trường mầm non công lập chất lượng cao trên địa bàn Thành phố Hà Nội theo hướng tự chủ. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị với đổi mới quản lí giáo dục nhà trường mà còn là cơ sở quan trọng, giúp chủ thể quản lí các cấp xem xét, hoạch định các chính sách nhằm phát triển mô hình nhà trường này trong thời gian tới.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 167

Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về kĩ năng mềm và đặc trưng lao động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học trong bối cảnh hiện nay, qua đó đề xuất hệ thống kĩ năng mềm cần phát triển cho đội ngũ này. Hệ thống kĩ năng mềm được đề xuất phát triển cho giáo viên tiểu học gồm hai nhóm: nhóm kĩ năng phát triển bản thân (5 kĩ năng) và nhóm kĩ năng tương tác với người khác (5 kĩ năng). Trên cơ sở mô hình phát triển năng lực cá nhân trong công việc (70:20:10), bài viết cũng đề xuất con đường phát triển kĩ năng mềm cho giáo viên tiểu học, vừa từ góc độ tự thân của mỗi giáo viên vừa từ góc độ quản lí và lãnh đạo nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng chương trình bồi dưỡng và hỗ trợ phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 306
Văn hóa nhà trường là yếu tố chiến lược trong đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam nhưng hiện còn thiếu nền tảng lí thuyết và quy trình thực hành hệ thống. Nhiều cơ sở chưa có định hướng rõ ràng, vai trò lãnh đạo chưa phát huy và bản sắc văn hóa chưa được định hình. Nghiên cứu này tiếp cận từ lí thuyết tổ chức kết hợp thực tiễn quản lí nhằm khảo sát vai trò, mục tiêu và mối tương quan giữa quy trình phát triển văn hóa nhà trường với các lĩnh vực quản lí then chốt như nhân sự, chuyên môn, môi trường, cộng đồng và phát triển bền vững. Phương pháp hỗn hợp được áp dụng: Định lượng qua 329 bảng hỏi, phân tích bằng SPSS 26 với thống kê mô tả, tương quan và hồi quy; định tính qua 30 phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát hiện trường. Kết quả chỉ ra rằng, phần lớn cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên đều nhận thức cao về tầm quan trọng của văn hóa nhà trường; năm bước trong quy trình xây dựng văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả quản lí, trong đó vai trò lãnh đạo có ảnh hưởng nổi bật đến quản lí nhân sự và chuyên môn. Nghiên cứu khẳng định văn hóa nhà trường là đòn bẩy chiến lược để tạo dựng môi trường sư phạm tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng bản sắc riêng cho mỗi cơ sở.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 183

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hướng tới bình đẳng giới và hội nhập quốc tế, việc lồng ghép giới ở cấp Tiểu học trở nên cần thiết nhằm hình thành nhận thức và thái độ bình đẳng ngay từ bậc học nền tảng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí thuyết với khảo sát 420 học sinh và 120 giáo viên, cán bộ quản lí tại 12 trường tiểu học, sử dụng thang Likert 5 bậc, phân tích hồ sơ dạy học và quan sát hoạt động giáo dục. Kết quả cho thấy hoạt động lồng ghép giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng trong học tập và rèn luyện kĩ năng sống, nhưng vẫn còn hạn chế về phạm vi, chiều sâu, năng lực giáo viên và sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng môi trường giáo dục công bằng, hòa nhập và bền vững, đồng thời đóng góp vào nâng cao năng lực giáo viên và định hướng chương trình giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh tiểu học.