Nghiên cứu này là kết quả khảo sát 23 giảng viên và 261 sinh viên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch dựa trên yêu cầu đối với chương trình học phần được phát triển và điều chỉnh từ bộ công cụ của Mạng lưới Đại học ASEAN - Đảm bảo Chất lượng (AUN-QA). Trên cơ sở kết hợp xử lí dữ liệu câu hỏi mở đối với sinh viên về ưu điểm, hạn chế và mong muốn đối với học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch, bài báo đưa ra những đánh giá về thực trạng chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân các ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.
Nghiên cứu này nhằm tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước về tác động của mạng xã hội đối với giáo dục và quản lí giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh phổ thông. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phổ biến của công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống học sinh, vừa mang đến những cơ hội phát triển vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại. Bằng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu từ Google Scholar và Scopus, nghiên cứu đã hệ thống hóa 25 nguồn tài liệu tiêu biểu, đồng thời sử dụng kĩ thuật phân tích đồng xuất hiện từ khóa để nhận diện các xu hướng và chủ đề nghiên cứu chính. Kết quả cho thấy, mạng xã hội có những tác động tích cực như hỗ trợ học tập, phát triển kĩ năng số, hình thành năng lực công dân số, tạo không gian giáo dục giá trị và đạo đức, cũng như tăng cường sự kết nối giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Tuy nhiên, song song với đó là hàng loạt hệ lụy tiêu cực bao gồm gia tăng bạo lực mạng, suy giảm kết quả học tập, tha hóa đạo đức, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và nguy cơ lệ thuộc vào công nghệ. Từ những kết quả này, nghiên cứu khẳng định rằng mạng xã hội là môi trường hai mặt, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với công tác giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh phổ thông.
Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về kĩ năng mềm và đặc trưng lao động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học trong bối cảnh hiện nay, qua đó đề xuất hệ thống kĩ năng mềm cần phát triển cho đội ngũ này. Hệ thống kĩ năng mềm được đề xuất phát triển cho giáo viên tiểu học gồm hai nhóm: nhóm kĩ năng phát triển bản thân (5 kĩ năng) và nhóm kĩ năng tương tác với người khác (5 kĩ năng). Trên cơ sở mô hình phát triển năng lực cá nhân trong công việc (70:20:10), bài viết cũng đề xuất con đường phát triển kĩ năng mềm cho giáo viên tiểu học, vừa từ góc độ tự thân của mỗi giáo viên vừa từ góc độ quản lí và lãnh đạo nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng chương trình bồi dưỡng và hỗ trợ phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học.
Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hướng tới bình đẳng giới và hội nhập quốc tế, việc lồng ghép giới ở cấp Tiểu học trở nên cần thiết nhằm hình thành nhận thức và thái độ bình đẳng ngay từ bậc học nền tảng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí thuyết với khảo sát 420 học sinh và 120 giáo viên, cán bộ quản lí tại 12 trường tiểu học, sử dụng thang Likert 5 bậc, phân tích hồ sơ dạy học và quan sát hoạt động giáo dục. Kết quả cho thấy hoạt động lồng ghép giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng trong học tập và rèn luyện kĩ năng sống, nhưng vẫn còn hạn chế về phạm vi, chiều sâu, năng lực giáo viên và sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng môi trường giáo dục công bằng, hòa nhập và bền vững, đồng thời đóng góp vào nâng cao năng lực giáo viên và định hướng chương trình giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh tiểu học.

