Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 204
Trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển sang tiếp cận phát triển năng lực gắn với bảo đảm chất lượng, học tập tự chủ trở thành năng lực cốt lõi đòi hỏi sự hỗ trợ hiệu quả từ hoạt động cố vấn học tập. Tuy nhiên, việc phát triển đội ngũ cố vấn học tập tại nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được định hướng một cách hệ thống theo các nguyên tắc quản lí chất lượng, đồng thời còn thiếu các công cụ đo lường được kiểm định để đánh giá mức độ thực hiện các nguyên tắc này. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần khắc phục khoảng trống đó. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi với 745 phiếu hợp lệ thu thập từ cán bộ quản lí, cố vấn học tập và sinh viên tại một số trường đại học ở Hà Nội. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định ANOVA nhằm xem xét sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng. Kết quả cho thấy các nguyên tắc quản lí chất lượng được thực hiện ở mức trung bình, đồng thời tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (ANOVA, p < 0,001). Đội ngũ cố vấn học tập có xu hướng đánh giá thấp hơn so với cán bộ quản lí và sinh viên. Đặc biệt, các nguyên tắc liên quan đến sự tham gia của các bên liên quan và phản hồi - cải tiến liên tục chưa được vận hành hiệu quả. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp cận phát triển đội ngũ cố vấn học tập theo hướng hệ thống, dựa trên quản lí chất lượng tích hợp và cải tiến liên tục, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý thực tiễn cho các cơ sở giáo dục đại học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 343

Nghiên cứu này đánh giá tác động của dạy học tích hợp trí tuệ nhân tạo theo khung AI-TPACK đến kết quả học tập nội dung xác suất thực nghiệm của học sinh lớp 5, thông qua bài học “Tỉ số của số lần lặp lại một sự kiện so với tổng số lần thực hiện”. Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng với thiết kế tiền kiểm và hậu kiểm trên hai lớp học sinh lớp 5 có trình độ tương đương. Nhóm thực nghiệm được tổ chức dạy học theo mô hình AI-TPACK với sự hỗ trợ của các công cụ AI trong hoạt động mô phỏng, trực quan hóa dữ liệu và phản hồi học tập, trong khi nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Kết quả phân tích định lượng cho thấy điểm trung bình hậu kiểm của nhóm thực nghiệm (M = 7,68; SD = 0,88) cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (M = 6,41; SD = 0,93) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Bên cạnh đó, kết quả khảo sát hứng thú học tập cũng cho thấy nhóm thực nghiệm đạt điểm trung bình cao hơn (M = 4,19; SD = 0,48) so với nhóm đối chứng (M = 3,44; SD = 0,59). Phân tích định tính từ quan sát lớp học và phiếu khảo sát cho thấy học sinh nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt về khả năng hiểu bản chất xác suất thực nghiệm, diễn đạt lập luận toán học và hứng thú học tập.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 207
Trong bối cảnh đào tạo nhóm ngành Sức khỏe chuyển mạnh sang đào tạo theo chuẩn đầu ra (Outcome-Based Education - OBE) và đào tạo dựa trên năng lực (Competency-Based Medical Education - CBME), phản hồi của người học và cựu người học ngày càng được xem là nguồn thông tin quan trọng cho cải tiến chương trình dạy học. Tuy nhiên, ảnh hưởng của phản hồi đến từng cấu phần cụ thể của chương trình dạy học vẫn chưa được làm rõ, đặc biệt khi phản hồi chưa được tiếp cận dưới góc độ chất lượng thông tin. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của chất lượng phản hồi từ người học và cựu người học đến phát triển chương trình dạy học theo chuẩn đầu ra trong đào tạo nhóm ngành Sức khỏe tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng thiết kế phương pháp hỗn hợp theo hướng giải thích, kết hợp khảo sát 464 giảng viên tại các cơ sở đào tạo nhóm ngành Sức khỏe với phỏng vấn sâu nhằm bổ trợ diễn giải kết quả. Dữ liệu định lượng được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính từng phần, trong đó chất lượng phản hồi được khái niệm hóa như một cấu trúc đa chiều dựa trên lí thuyết chất lượng thông tin. Kết quả cho thấy, chất lượng phản hồi có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tất cả các cấu phần của chương trình dạy học theo OBE. Đồng thời, phản hồi của người học tác động rõ hơn đến phương pháp dạy học và đánh giá, trong khi phản hồi của cựu người học liên quan chặt chẽ hơn đến chuẩn đầu ra và cấu trúc chương trình.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 298

Năng lực mô hình hóa Toán học được xem là cần thiết cho sinh viên Sư phạm, bởi đây là cơ sở để họ tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực Toán học ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp. Bài viết tổng quan 79 ấn phẩm khoa học được tìm kiếm từ cơ sở dữ liệu SCOPUS có liên quan đến chủ đề năng lực mô hình hóa của sinh viên Sư phạm. Từ đó phân tích quan niệm, vai trò, biểu hiện và các thách thức liên quan đến năng lực này, đồng thời hệ thống hóa những kinh nghiệm quốc tế trong đào tạo giáo viên. Bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm định hướng nghiên cứu về việc bồi dưỡng năng lực mô hình hóa Toán học cho sinh viên Sư phạm ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 239

Nghiên cứu mô tả thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội theo định hướng phát triển thương hiệu trong bối cảnh tự chủ giáo dục đại học. Dữ liệu được thu thập bằng khảo sát từ 388 khách thể, gồm 150 cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên và 238 sinh viên, nhằm đánh giá thực trạng nhận thức và nội dung xây dựng văn hóa nhà trường hướng tới phát triển thương hiệu ở Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Kết quả phân tích thực trạng thông qua phần mềm SPSS 26 cho thấy các khách thể đã nhận thức khá rõ về vai trò và nội dung văn hóa nhà trường. Tuy nhiên, mức độ chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi cụ thể còn hạn chế. Nhiều chuẩn mực liên quan đến phục vụ người học, kỉ cương học thuật, hợp tác và trách nhiệm giải trình chưa được thực hành lặp lại đủ thường xuyên để trở thành thói quen bền vững và được duy trì nhất quán giữa các đơn vị. Vì vậy, bản sắc văn hóa đặc trưng chưa thực sự nổi bật, khiến văn hóa chưa phát huy vai trò như nền tảng tạo khác biệt và nâng cao thương hiệu trong bối cảnh tự chủ đại học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 240
Bài viết trình bày về kết quả nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa môi trường gia đình và rối loạn lo âu ở học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội, tập trung vào yếu tố hoạt động gia đình và quan hệ gia đình. Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng cắt ngang trên mẫu 433 học sinh trung học cơ sở, thu thập dữ liệu bằng thang đo tự báo cáo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biểu hiện rối loạn lo âu của học sinh trung học cơ sở chủ yếu về khía cạnh nhận thức - cảm xúc; mức độ tham gia hoạt động gia đình ở mức trung bình, trong khi quan hệ gia đình nhìn chung được học sinh đánh giá tích cực. Phân tích tương quan và hồi quy cho thấy mức độ tham gia các hoạt động gia đình là yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với rối loạn lo âu, trong khi yếu tố quan hệ gia đình không thể hiện vai trò dự báo trong mô hình đa biến. Mặc dù tỉ lệ phương sai được giải thích còn hạn chế, kết quả nhấn mạnh tầm quan trọng của các tương tác thường nhật trong môi trường gia đình là một yếu tố bảo vệ tiềm năng trong phòng ngừa và can thiệp rối loạn lo âu ở học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 229
Bài báo phân tích thực trạng triển khai và hạn chế của việc vận dụng lí thuyết học tập trải nghiệm trong thực tiễn tổ chức dạy học khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội. Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp của khoa học giáo dục, bao gồm điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu giảng viên và cán bộ quản lí kết hợp phân tích hoạt động dạy học. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình học tập trải nghiệm trong dạy học khoa học xã hội và nhân văn, đánh giá thực trạng vận dụng vào mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá, qua đó khẳng định tác động tích cực đến quá trình phát triển năng lực của học viên. Tuy nhiên, việc triển khai còn thiếu tính hệ thống và đồng bộ; các hoạt động trải nghiệm chủ yếu mang tính bổ trợ trong khi năng lực tổ chức học tập trải nghiệm của giảng viên, điều kiện hạ tầng và học liệu hỗ trợ còn hạn chế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các trường sĩ quan quân đội trong việc xác định giải pháp vận dụng lí thuyết học tập trải nghiệm vào dạy học khoa học xã hội và nhân văn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 252
Mặc dù vai trò của giáo dục đại học đối với phát triển bền vững đã được thừa nhận trong nhiều nghiên cứu nhưng việc thiếu hụt các minh chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa nhận thức của sinh viên và đóng góp thực tế của nhà trường tại các vùng nhạy cảm về môi trường như Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn là một khoảng trống nghiên cứu đáng kể. Nghiên cứu này vận dụng mô hình KAP để khám phá mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên và vai trò của trường đại học đối với phát triển bền vững. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát 935 sinh viên và phân tích bằng phần mềm SmartPLS 4. Kết quả cho thấy, kiến thức là yếu tố có tác động sâu sắc nhất đến thái độ và hành vi bền vững và sự tham gia của nhà trường vào các hoạt động bền vững. Tuy nhiên, một phát hiện trái với kì vọng là thái độ không phải yếu tố quyết định hành vi, cũng không đóng vai trò là động lực thúc đẩy đóng góp của trường đại học. Đặc biệt, tác động của nhà trường đến việc định hình hành vi bền vững của sinh viên hiện còn rất hạn chế. Kết quả này cung cấp căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học tái cấu trúc chiến lược quản trị và đào tạo nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức và thực thi tính bền vững.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 326
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, bài báo này đánh giá thực trạng năng lực viết nghị luận văn học của học sinh chuyên Văn ở trường trung học phổ thông chuyên thông qua khảo sát tự đánh giá của 176 học sinh chuyên Văn (lớp 10-12) thuộc 06 trường trung học phổ thông chuyên tiêu biểu tại miền Bắc. Phiếu hỏi học sinh được thiết kế theo thang đo Likert 5 bậc, bám sát 14 thành tố năng lực ở ba giai đoạn của tiến trình viết: trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết. Kết quả khảo sát cho thấy, năng lực ở giai đoạn trước và trong khi viết chủ yếu được học sinh đánh giá ở mức khá; giai đoạn sau khi viết cơ bản ở mức trung bình. Từ những kết quả đó, bài báo gợi mở một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển một cách đồng bộ các thành tố của năng lực viết văn bản nghị luận văn học cho học sinh chuyên Văn, trong đó chú trọng dạy viết dựa theo tiến trình gắn với các kĩ năng nâng cao, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quan điểm, chương trình, nội dung bồi dưỡng học sinh chuyên Văn đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực.