Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 206

Học tập tự định hướng được coi là một trong những năng lực cốt lõi của người học, giúp họ thích nghi với những thay đổi liên tục và khó lường của kỉ nguyên số. Mục đích của bài viết này là nghiên cứu ảnh hưởng của sự chấp nhận công nghệ đến học tập tự định hướng với công nghệ và vai trò trung gian của nó trong mối quan hệ giữa sự chấp nhận công nghệ và học tập tự định hướng sử dụng mô hình phương trình cấu trúc. Mẫu nghiên cứu bao gồm 337 sinh viên đại học tham gia vào một khóa học được tổ chức theo hình thức học tập kết hợp. Kết quả phân tích mô hình cho thấy sự tự tin khi sử dụng công nghệ có ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ, từ đó ảnh hưởng tới học tập tự định hướng với công nghệ và học tập tự định hướng. Sự tự tin khi sử dụng công nghệ có tác động gián tiếp đến học tập tự định hướng với công nghệ, trong khi sự chấp nhận công nghệ có tác động gián tiếp đến học tập tự định hướng. Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết phải trang bị cho người học năng lực công nghệ số và tích hợp các chiến lược học tập như sự tự quản và ý định học tập sử dụng công nghệ vào thực tiễn dạy học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 187

Mục đích của nghiên cứu là xác định mức độ tác động của các yếu tố quản lí đến kết quả hoạt động làm quen tiếng Anh của trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non công lập ở xã Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng thiết kế khảo sát định lượng cắt ngang với 115 cán bộ quản lí và giáo viên mầm non. Dữ liệu được thu thập bằng thang đo Likert 5 mức và phân tích bằng thống kê mô tả, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy, các yếu tố quản lí có mối tương quan dương với kết quả hoạt động làm quen tiếng Anh của trẻ. Mô hình hồi quy đạt ý nghĩa thống kê, trong đó thiết lập kế hoạch thể hiện xu hướng tác động nổi bật nhất, trong khi các yếu tố còn lại chưa cho thấy ảnh hưởng rõ rệt. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lí và chất lượng tổ chức hoạt động làm quen tiếng Anh trong giáo dục mầm non.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 192
Trong bối cảnh Khung năng lực số quốc gia đã được ban hành, việc cụ thể hóa và kiểm định công cụ đo lường phù hợp với học sinh tiểu học vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi trường số. Nghiên cứu nhằm làm rõ cấu trúc đa thành phần của năng lực này thông qua kiểm định thang đo dựa trên Khung năng lực số quốc gia và khảo sát mức độ tự đánh giá các biểu hiện ở học sinh tiểu học. Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng cắt ngang với bảng hỏi gồm sáu thành phần. Dữ liệu được thu thập từ 4403 học sinh và 918 giáo viên. Phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định cho thấy mô hình sáu thành phần có độ phù hợp tốt. Kết quả cho thấy, học sinh tự đánh giá các biểu hiện ở mức trung bình khá; các thành phần liên quan đến quy tắc ứng xử trên môi trường số, quản lí sự hiện diện và danh tính số cao hơn, trong khi chia sẻ thông tin và nội dung số thấp hơn; giáo viên có xu hướng đánh giá thấp hơn học sinh ở hầu hết các thành phần. Kết quả đồng thời cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện công cụ đánh giá và thiết kế hoạt động dạy học.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 316

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, năng lực sáng tạo được xác định là năng lực cốt lõi để thích ứng với môi trường làm việc đầy biến động. Tuy nhiên, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam chưa có khung năng lực sáng tạo cụ thể với các mức độ thể hiện và chỉ báo đánh giá rõ ràng, gây khó khăn cho việc thiết kế hoạt động dạy học và đánh giá năng lực này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết để tích hợp khung năng lực của OECD, PISA 2022 với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Kết quả nghiên cứu đề xuất khung năng lực sáng tạo gồm 5 thành tố cốt lõi (xác định thông tin, ý tưởng mới; phân tích làm rõ, ý tưởng mới; hình thành ý tưởng mới từ các nguồn thông tin đã có; cải tiến giải pháp cũ hoặc đề xuất giải pháp mới và so sánh, bình luận về giải pháp đề xuất) với 4 mức độ phát triển (Tiềm ẩn, Hình thành, Tốt, Xuất sắc). Kết quả ban đầu này tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển và đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam, đồng thời đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 282
Bài viết nhằm xây dựng quy trình dạy học môn Lịch sử và Địa lí theo tiếp cận trải nghiệm ở tiểu học trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại và dữ liệu khảo sát thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng trống mà nghiên cứu tập trung giải quyết là sự thiếu vắng một quy trình chuyên biệt, có căn cứ thực tiễn dành cho giáo viên tiểu học khi tổ chức dạy học môn Lịch sử và Địa lí theo tiếp cận trải nghiệm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế hỗn hợp theo hướng mô tả - phát triển; dữ liệu được thu thập từ phân tích tài liệu, khảo sát 178 giáo viên và 75 cán bộ quản lí tại 14 trường tiểu học, kết hợp với quan sát sư phạm, phỏng vấn và phân tích sản phẩm học tập. Kết quả cho thấy, các nhà trường đã quan tâm đến việc xác định mục tiêu và đánh giá sau bài học, nhưng các hoạt động cốt lõi của dạy học trải nghiệm như dự kiến hình thức, địa điểm trải nghiệm; tổ chức cho học sinh khám phá trực tiếp; và tổ chức thao tác, thực hành còn thấp hơn và kém đồng đều hơn giữa các trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất quy trình 04 bước gồm: 1) Thiết kế kế hoạch bài dạy, 2) Tổ chức thực hiện, 3) Đánh giá kết quả và 4) Phát triển kế hoạch dạy học. Quy trình này góp phần cụ thể hóa định hướng dạy học theo tiếp cận trải nghiệm trong môn Lịch sử và Địa lí ở tiểu học, đồng thời cung cấp căn cứ tham chiếu cho giáo viên, tổ chuyên môn và hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 200

Nghiên cứu này nhằm xây dựng khung đánh giá kĩ năng thiết kế và tổ chức trò chơi học tập của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học theo tiếp cận kĩ năng nghề nghiệp gắn với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn đầu ra của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và định hướng Học thông qua Chơi. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tài liệu, tham vấn chuyên gia và xử lí thống kê dữ liệu. Kết quả đã xác lập khung đánh giá gồm 5 thành tố, 13 chỉ số hành vi và 4 mức độ phát triển, đảm bảo tính hệ thống, khả năng quan sát và đo lường. Kết quả tham vấn chuyên gia và kiểm định độ tin cậy cho thấy khung đánh giá có mức độ phù hợp cao và độ tin cậy tốt. Khung đánh giá góp phần hỗ trợ đánh giá và phát triển kĩ năng thiết kế, tổ chức trò chơi học tập cho sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên tiểu học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 213

Bạo lực học đường gây nhiều tổn thương tâm lí đối với học  sinh tiểu học, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tư vấn cho sinh viên sư  phạm. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của một chương trình rèn  luyện kĩ năng tư vấn cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại  học Hùng Vương nhằm hỗ trợ học sinh ứng phó với tổn thương do bạo  lực học đường. Chương trình được triển khai thông qua các hoạt động  trải nghiệm như: Xây dựng câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng, thực hiện các  dự án tư vấn theo chủ đề và tổ chức hoạt động trải nghiệm tại các cơ sở  tư vấn tâm lí. Thực nghiệm được tiến hành trên 120 sinh viên, chia thành  nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (mỗi nhóm 60 sinh viên). Kĩ  năng tư vấn được đánh giá theo bốn tiêu chí: Nhận diện tổn thương tâm  lí, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với tổn thương và tìm kiếm sự trợ giúp.  Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test độc lập.  Kết quả cho thấy, 68,3% sinh viên nhóm thực nghiệm đạt mức Tốt và  Xuất sắc, cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng, sự khá

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 272
Nghiên cứu so sánh hành vi tiếp cận video bài giảng giữa hai nhóm sinh viên học theo mô hình đảo ngược (n=45) và mô hình truyền thống (n=132). Thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm được thực hiện trong 15 tuần tại một trường đại học tư thục. Kết quả khảo sát 177 sinh viên cho thấy sự khác biệt về thời điểm xem video: 55.5% sinh viên lớp đảo ngược xem trước hoặc trong giờ học, trong khi chỉ 10.6% ở nhóm truyền thống làm như vậy. Về động cơ, nhóm đảo ngược có tỉ lệ động cơ học tập sâu cao hơn (81.6% so với 62.0%). Hành vi sử dụng video của nhóm đảo ngược cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (M=3.87 và M=3.58, p=.05). Ngược lại, kì vọng về hiệu suất và nỗ lực không có khác biệt cho thấy cả hai nhóm đều có cảm nhận tương tự khi tiếp cận với các video bài giảng. Phân tích YouTube Analytics bộc lộ xu hướng xem video tăng đột biến trước deadline và ưu tiên nội dung thực hành hơn lí thuyết. Nghiên cứu gợi ý rằng, mô hình đảo ngược có tác động mạnh đến hành vi quan sát được nhưng ảnh hưởng hạn chế hơn đến động cơ và thái độ nội tại, đồng thời cung cấp hàm ý thực tiễn cho việc thiết kế mô hình đảo ngược hiệu quả tại các trường đại học tư thục Việt Nam.