Học tập tự định hướng được coi là một trong những năng lực cốt lõi của người học, giúp họ thích nghi với những thay đổi liên tục và khó lường của kỉ nguyên số. Mục đích của bài viết này là nghiên cứu ảnh hưởng của sự chấp nhận công nghệ đến học tập tự định hướng với công nghệ và vai trò trung gian của nó trong mối quan hệ giữa sự chấp nhận công nghệ và học tập tự định hướng sử dụng mô hình phương trình cấu trúc. Mẫu nghiên cứu bao gồm 337 sinh viên đại học tham gia vào một khóa học được tổ chức theo hình thức học tập kết hợp. Kết quả phân tích mô hình cho thấy sự tự tin khi sử dụng công nghệ có ảnh hưởng đến sự chấp nhận công nghệ, từ đó ảnh hưởng tới học tập tự định hướng với công nghệ và học tập tự định hướng. Sự tự tin khi sử dụng công nghệ có tác động gián tiếp đến học tập tự định hướng với công nghệ, trong khi sự chấp nhận công nghệ có tác động gián tiếp đến học tập tự định hướng. Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết phải trang bị cho người học năng lực công nghệ số và tích hợp các chiến lược học tập như sự tự quản và ý định học tập sử dụng công nghệ vào thực tiễn dạy học.
Mục đích của nghiên cứu là xác định mức độ tác động của các yếu tố quản lí đến kết quả hoạt động làm quen tiếng Anh của trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non công lập ở xã Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng thiết kế khảo sát định lượng cắt ngang với 115 cán bộ quản lí và giáo viên mầm non. Dữ liệu được thu thập bằng thang đo Likert 5 mức và phân tích bằng thống kê mô tả, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy, các yếu tố quản lí có mối tương quan dương với kết quả hoạt động làm quen tiếng Anh của trẻ. Mô hình hồi quy đạt ý nghĩa thống kê, trong đó thiết lập kế hoạch thể hiện xu hướng tác động nổi bật nhất, trong khi các yếu tố còn lại chưa cho thấy ảnh hưởng rõ rệt. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quản lí và chất lượng tổ chức hoạt động làm quen tiếng Anh trong giáo dục mầm non.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, năng lực sáng tạo được xác định là năng lực cốt lõi để thích ứng với môi trường làm việc đầy biến động. Tuy nhiên, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam chưa có khung năng lực sáng tạo cụ thể với các mức độ thể hiện và chỉ báo đánh giá rõ ràng, gây khó khăn cho việc thiết kế hoạt động dạy học và đánh giá năng lực này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết để tích hợp khung năng lực của OECD, PISA 2022 với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Kết quả nghiên cứu đề xuất khung năng lực sáng tạo gồm 5 thành tố cốt lõi (xác định thông tin, ý tưởng mới; phân tích làm rõ, ý tưởng mới; hình thành ý tưởng mới từ các nguồn thông tin đã có; cải tiến giải pháp cũ hoặc đề xuất giải pháp mới và so sánh, bình luận về giải pháp đề xuất) với 4 mức độ phát triển (Tiềm ẩn, Hình thành, Tốt, Xuất sắc). Kết quả ban đầu này tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển và đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam, đồng thời đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu này nhằm xây dựng khung đánh giá kĩ năng thiết kế và tổ chức trò chơi học tập của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học theo tiếp cận kĩ năng nghề nghiệp gắn với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn đầu ra của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và định hướng Học thông qua Chơi. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tài liệu, tham vấn chuyên gia và xử lí thống kê dữ liệu. Kết quả đã xác lập khung đánh giá gồm 5 thành tố, 13 chỉ số hành vi và 4 mức độ phát triển, đảm bảo tính hệ thống, khả năng quan sát và đo lường. Kết quả tham vấn chuyên gia và kiểm định độ tin cậy cho thấy khung đánh giá có mức độ phù hợp cao và độ tin cậy tốt. Khung đánh giá góp phần hỗ trợ đánh giá và phát triển kĩ năng thiết kế, tổ chức trò chơi học tập cho sinh viên trong quá trình đào tạo giáo viên tiểu học.
Bạo lực học đường gây nhiều tổn thương tâm lí đối với học sinh tiểu học, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tư vấn cho sinh viên sư phạm. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của một chương trình rèn luyện kĩ năng tư vấn cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Hùng Vương nhằm hỗ trợ học sinh ứng phó với tổn thương do bạo lực học đường. Chương trình được triển khai thông qua các hoạt động trải nghiệm như: Xây dựng câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng, thực hiện các dự án tư vấn theo chủ đề và tổ chức hoạt động trải nghiệm tại các cơ sở tư vấn tâm lí. Thực nghiệm được tiến hành trên 120 sinh viên, chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (mỗi nhóm 60 sinh viên). Kĩ năng tư vấn được đánh giá theo bốn tiêu chí: Nhận diện tổn thương tâm lí, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với tổn thương và tìm kiếm sự trợ giúp. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định T-test độc lập. Kết quả cho thấy, 68,3% sinh viên nhóm thực nghiệm đạt mức Tốt và Xuất sắc, cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng, sự khá

