Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 198
Nghiên cứu này xác lập Khung Chuẩn đầu ra cho Chương trình đào tạo Kĩ sư công nghệ kĩ thuật tại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0. Mặc dù nhiều chương trình đã được kiểm định theo tiêu chuẩn nước ngoài nhưng vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chuẩn đầu ra hiện tại và yêu cầu của các tổ chức kiểm định quốc tế. Nghiên cứu đã phân tích so sánh các khung chuẩn đầu ra từ ABET, Engineers Australia, JABEE, ASIIN và Sydney Accord cùng với khung pháp lí Việt Nam để đề xuất khung tích hợp gồm 10 chuẩn đầu ra cốt lõi với các chỉ số thực hiện cụ thể. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu quốc tế và phù hợp với bối cảnh Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận lẫn nhau về văn bằng giữa Việt Nam và các nước trên thế giới.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 315
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 265
Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong dạy học của 316 giáo viên tiểu học tại vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Kết quả cho thấy, đa số giáo viên đã có nhận thức ban đầu về khái niệm giáo dục kĩ năng công dân số nhưng chưa đầy đủ và chính xác. Hầu hết giáo viên đánh giá việc tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số vào dạy học ở tiểu học là cần thiết, với nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt, khi tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí là rất phù hợp và đem lại nhiều lợi ích. Giáo viên triển khai tích hợp giáo dục kĩ năng công dân số trong môn Lịch sử và Địa lí có nhiều thuận lợi từ các chính sách, cơ sở hạ tầng, nguồn lực đầu tư của nhà nước và địa phương; đã được tham gia nhiều lớp tập huấn nên có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Học sinh dễ dàng tiếp cận với thiết bị công nghệ và Internet; có thể khai thác và sử dụng kho học liệu khổng lồ về Lịch sử và Địa lí từ nhiều nguồn trực tuyến thông qua các phần mềm khác nhau.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 288
Hiện nay, dạy học theo định hướng giáo dục STEM ở các trường phổ thông đang dần trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục người học. Đặc biệt, trong bối cảnh Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đang tập trung tiếp cận theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực, vai trò của giáo dục STEM ngày càng được coi trọng hơn. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm và mục tiêu giáo dục STEM để từ đó xây dựng kế hoạch bài dạy môn Toán theo định hướng giáo dục STEM với chủ đề hàm số bậc hai. Chúng tôi cũng trình bày kết quả thực nghiệm trên một lớp 10 gồm 40 học sinh để cho thấy tính khả thi và hiệu quả của các hoạt động dạy học. Thông qua các hoạt động trong kế hoạch bài học STEM, học sinh có thể sử dụng được hàm số bậc hai để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, gắn kết các kiến thức giữa Toán học và Vật lí, phát triển năng lực tư duy và lập luận Toán học, năng lực giải quyết vấn đề Toán học cũng như năng lực giao tiếp và hợp tác.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 212
Công nghệ thông tin ngày càng được giáo viên quan tâm và ứng dụng trong dạy học, tuy nhiên việc sử dụng vẫn còn nhiều thách thức. Bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán tại một số trường trung học phổ thông thuộc một số tỉnh khu vực phía Bắc. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số giáo viên có kĩ năng công nghệ thông tin ở mức cơ bản, nhưng khả năng sử dụng các phần mềm chuyên biệt cho môn Toán còn hạn chế. Phần mềm trình chiếu được sử dụng phổ biến, trong khi các phần mềm hỗ trợ dạy học môn toán có mức độ sử dụng thấp hơn. Các yếu tố như giới tính, kinh nghiệm công tác ảnh hưởng đến mức độ sử dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về mức độ sử dụng công nghệ thông tin giữa giáo viên ở các các khu vực thành thị, nông thôn và vùng núi. Các yếu tố về con người, nguồn lực như thái độ và kĩ năng công nghệ thông tin của giáo viên, sự hỗ trợ và khả năng tiếp cận công nghệ thông tin có ảnh hưởng tới mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, góp phần cải thiện chất lượng giảng dạy môn Toán trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 159
Cảm xúc đóng vai trò rất quan trọng trong lớp học, không chỉ ảnh hưởng đến sự hạnh phúc và chất lượng giảng dạy của giáo viên mà còn tác động đến sự tham gia cũng như kết quả học tập của học sinh và môi trường giáo dục tổng thể. Mặc dù cảm xúc của giáo viên là một khía cạnh thiết yếu nhưng cho tới thời điểm hiện tại có rất ít nghiên cứu tập trung vào chủ đề cảm xúc của giáo viên trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Bài tổng quan tìm hiểu các nghiên cứu xuất bản gần đây về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh. Cụ thể, bài viết trình bày các khái niệm về cảm xúc và cảm xúc của giáo viên; các hướng tiếp cận nghiên cứu; các khung lí thuyết phổ biến (bao gồm: Hệ thống sinh thái, Địa lí cảm xúc, Cảm xúc thành tích, Đánh giá và Tiếp cận phê phán); các yếu tố tác động đến cảm xúc của giáo viên (bao gồm các yếu tố cá nhân, ngữ cảnh và năng lực cảm xúc); các hướng nghiên cứu phổ biến; đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai. Bài viết này cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh ở Việt Nam.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 172
Giáo dục quốc tế đã và đang được nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển chú trọng bởi nhiều lợi ích mang lại về kinh tế, chính trị và ngoại giao. Bài viết nhằm tìm hiểu chiến lược phát triển giáo dục quốc tế ở các quốc gia Canada, Úc và Trung Quốc. Mỗi quốc gia có các định hướng, chiến lược khác nhau để phát triển lĩnh vực này phù hợp với các mục đích và tham vọng của mình, thể hiện qua các chính sách liên quan không chỉ tới giáo dục (đảm bảo chất lượng giáo dục, đa dạng hóa chương trình, nội dung, hình thức giáo dục,...) mà còn tới các lĩnh vực khác như di trú, lao động việc làm,... Đây là những bài học kinh nghiệm thực tiễn để Việt Nam có thể tham khảo điều chỉnh các chính sách phát triển giáo dục phù hợp hơn, khai thác tốt hơn lợi ích của giáo dục quốc tế.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 178
Mục đích của nghiên cứu là xây dựng và cải thiện mô hình liên kết giữa nhà trường và cơ sở thực hành trong đào tạo ngành giáo dục đặc biệt tại Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội. Nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề như thiếu phối hợp giữa các bên, thiếu cơ sở vật chất và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả hợp tác. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát qua phiếu hỏi, phỏng vấn sâu với giảng viên và sinh viên, quan sát thực tế và đánh giá sản phẩm học tập của sinh viên. Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy, phát triển kĩ năng chuyên môn là mục tiêu quan trọng nhất trong thực tập, tiếp theo là khả năng thích ứng, còn kĩ năng mềm ít được ưu tiên. Ngoài ra, những khó khăn về cơ sở vật chất và thiếu nhân lực hướng dẫn được ghi nhận. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như phát triển chương trình đào tạo kết hợp lí thuyết và thực hành, tăng cường đào tạo giảng viên và thiết lập cơ chế phản hồi hiệu quả giữa các bên để nâng cao chất lượng thực hành và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành Giáo dục đặc biệt của nhà trường.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 132
Động vật hoang dã suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động của con người đã gây ra nhiều hệ lụy đối với ngôi nhà chung của con người. Bảo vệ động vật hoang dã không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tập thể mà là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta. Giáo dục bảo vệ động vật hoang dã là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của công dân trong việc bảo vệ động vật ngoài tự nhiên. Bài viết phân tích thực trạng về giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông tại Tây Nguyên, nghiên cứu điển hình tại Lâm Đồng và Đắk Lắk. Từ đó, tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản lí, các nhà giáo dục, tổ chức môi trường đưa ra giải pháp thiết thực trong việc cải thiện hiệu quả giáo dục bảo vệ động vật hoang dã trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 168
Trong Chương trình Ngữ văn 2018, yếu tố người kể chuyện trong truyện kể là một nội dung quan trọng trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện, xuất hiện xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 12. Theo lí thuyết tự sự học, người kể chuyện là một hình tượng được hư cấu trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, có vai trò to lớn trong nghệ thuật tự sự của một truyện kể. Các yếu tố cơ bản của người kể chuyện là ngôi kể, điểm nhìn và lời kể. Hiện nay, các vấn đề lí luận về người kể chuyện vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất nhưng Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 2018 đã lựa chọn những kiến thức phù hợp nhất với người học để đưa vào dạy học. Bằng phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn, bài viết đưa ra một số trao đổi và gợi ý dạy học về nội dung người kể chuyện trong truyện kể theo yêu cầu của Chương trình Ngữ văn 2018, được triển khai theo ba yếu tố cơ bản của người kể chuyện: ngôi kể, lời kể và điểm nhìn của người kể chuyện.