Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 82

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hướng tới bình đẳng giới và hội nhập quốc tế, việc lồng ghép giới ở cấp Tiểu học trở nên cần thiết nhằm hình thành nhận thức và thái độ bình đẳng ngay từ bậc học nền tảng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí thuyết với khảo sát 420 học sinh và 120 giáo viên, cán bộ quản lí tại 12 trường tiểu học, sử dụng thang Likert 5 bậc, phân tích hồ sơ dạy học và quan sát hoạt động giáo dục. Kết quả cho thấy hoạt động lồng ghép giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng trong học tập và rèn luyện kĩ năng sống, nhưng vẫn còn hạn chế về phạm vi, chiều sâu, năng lực giáo viên và sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng môi trường giáo dục công bằng, hòa nhập và bền vững, đồng thời đóng góp vào nâng cao năng lực giáo viên và định hướng chương trình giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh tiểu học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 83

Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về kĩ năng mềm và đặc trưng lao động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học trong bối cảnh hiện nay, qua đó đề xuất hệ thống kĩ năng mềm cần phát triển cho đội ngũ này. Hệ thống kĩ năng mềm được đề xuất phát triển cho giáo viên tiểu học gồm hai nhóm: nhóm kĩ năng phát triển bản thân (5 kĩ năng) và nhóm kĩ năng tương tác với người khác (5 kĩ năng). Trên cơ sở mô hình phát triển năng lực cá nhân trong công việc (70:20:10), bài viết cũng đề xuất con đường phát triển kĩ năng mềm cho giáo viên tiểu học, vừa từ góc độ tự thân của mỗi giáo viên vừa từ góc độ quản lí và lãnh đạo nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng chương trình bồi dưỡng và hỗ trợ phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 126
Văn hóa nhà trường là yếu tố chiến lược trong đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam nhưng hiện còn thiếu nền tảng lí thuyết và quy trình thực hành hệ thống. Nhiều cơ sở chưa có định hướng rõ ràng, vai trò lãnh đạo chưa phát huy và bản sắc văn hóa chưa được định hình. Nghiên cứu này tiếp cận từ lí thuyết tổ chức kết hợp thực tiễn quản lí nhằm khảo sát vai trò, mục tiêu và mối tương quan giữa quy trình phát triển văn hóa nhà trường với các lĩnh vực quản lí then chốt như nhân sự, chuyên môn, môi trường, cộng đồng và phát triển bền vững. Phương pháp hỗn hợp được áp dụng: Định lượng qua 329 bảng hỏi, phân tích bằng SPSS 26 với thống kê mô tả, tương quan và hồi quy; định tính qua 30 phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát hiện trường. Kết quả chỉ ra rằng, phần lớn cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên đều nhận thức cao về tầm quan trọng của văn hóa nhà trường; năm bước trong quy trình xây dựng văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả quản lí, trong đó vai trò lãnh đạo có ảnh hưởng nổi bật đến quản lí nhân sự và chuyên môn. Nghiên cứu khẳng định văn hóa nhà trường là đòn bẩy chiến lược để tạo dựng môi trường sư phạm tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng bản sắc riêng cho mỗi cơ sở.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 80

Nghiên cứu này là kết quả khảo sát 23 giảng viên và 261 sinh viên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch dựa trên yêu cầu đối với chương trình học phần được phát triển và điều chỉnh từ bộ công cụ của Mạng lưới Đại học ASEAN - Đảm bảo Chất lượng (AUN-QA). Trên cơ sở kết hợp xử lí dữ liệu câu hỏi mở đối với sinh viên về ưu điểm, hạn chế và mong muốn đối với học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch, bài báo đưa ra những đánh giá về thực trạng chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân các ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 77

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam ngày càng hội nhập và cạnh tranh, việc xây dựng và phát triển thương hiệu trường học, đặc biệt ở các trường tiểu học trở thành một yếu tố then chốt nhằm khẳng định uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu này tập trung phân tích cơ sở để đưa ra tiêu chí nhận diện, đánh giá thương hiệu giáo dục nói chung, thương hiệu trường tiểu học tại Việt Nam nói riêng. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng, thương hiệu trường học không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình mà còn bao hàm cả những yếu tố vô hình. Kết quả nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí nhận diện và đánh giá thương hiệu gồm bốn nhóm chính: 1) Nhận diện trực quan, 2) Thông điệp và giá trị, 3) Trải nghiệm thương hiệu, 4) Hình ảnh-uy tín trong cộng đồng (Reputation & Trust). Bộ tiêu chí này không chỉ cung cấp công cụ đánh giá khách quan và toàn diện hơn cho các cơ sở giáo dục tư thục mà còn là cơ sở để hoạch định chiến lược truyền thông, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 155
Nghiên cứu này cung cấp tổng quan về khung AI-TPACK, một sự mở rộng của mô hình TPACK truyền thống, nhằm tích hợp trí tuệ nhân tạo vào giáo dục. Bài viết phân tích các thành phần cốt lõi của AI-TPACK và sự giao thoa của chúng để làm nổi bật tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức chuyên biệt cho giáo viên trong kỉ nguyên số. Bài viết chỉ ra rằng, việc ứng dụng khung này trong thực tế vẫn còn hạn chế và ở giai đoạn sơ khai, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo giáo viên Toán. Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy năng lực AI-TPACK của giáo viên còn ở mức trung bình và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như kinh nghiệm giảng dạy, kĩ năng số và sự tự tin. Bài viết cũng xác định một số khoảng trống nghiên cứu quan trọng ở Việt Nam liên quan đến chủ đề này.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 112
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục mầm non và đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi theo yêu cầu tại Nghị quyết số 218/2025/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (Nghị quyết số 218/2025/QH15). Thông qua phân tích các văn bản, báo cáo của các cơ quan quản lí nhà nước, thống kê tổng hợp, đánh giá những khó khăn thách thức của giáo dục mầm non cho thấy việc thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 218/2025/QH15 sẽ gặp những khó khăn, thách thức về mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư. Bài viết đề xuất giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo từ 3 tuổi đến 5 tuổi. Những giải pháp này sẽ góp phần trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục mầm non trong giai đoạn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 75
Nghiên cứu này trình bày chi tiết về việc thiết kế và đánh giá ban đầu ‘VisuoGeometry - Trainer’, một hệ thống luyện tập hình học trực quan thích ứng dựa trên mô hình BKT (Knowledge Tracing theo Bayesian), nhằm giải quyết những khó khăn của học sinh lớp 7 trong việc học hình học trực quan tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu ưu tiên tính sư phạm, tích hợp một ngân hàng câu hỏi, gồm các thành phần kiến thức (Ví dụ: tính thể tích hình lăng trụ, nhận diện tính chất của hình lập phương) và sai lầm phổ biến (Ví dụ: nhầm lẫn giữa diện tích xung quanh và thể tích, diễn giải sai hình biểu diễn 2D của vật thể 3D); một mô hình người học dựa trên BKT, nhằm theo dõi hiệu suất trên từng kĩ năng và một cơ chế thích ứng minh bạch, vận hành bởi mô hình BKT được thiết kế nhằm mô phỏng các quyết định của giáo viên. Kết quả chính từ một nghiên cứu thử nghiệm trên 8 học sinh cho thấy, thiết kế của hệ thống có hiệu quả trong việc cá nhân hóa lộ trình học, xác định thành công trong việc xác định điểm yếu cá nhân và điều chỉnh độ khó theo thời gian thực.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 89
Trong bối cảnh chuyển đổi số và định hướng giáo dục STEM, việc bồi dưỡng tư duy lập trình cho trẻ 3 - 6 tuổi tại Việt Nam tuy được quan tâm nhưng còn thiếu bằng chứng thực nghiệm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện nhu cầu, điều kiện và các yêu cầu kĩ thuật - sư phạm cho việc ứng dụng robot giáo dục ở bậc Mầm non. Kết quả khảo sát giáo viên và phụ huynh cho thấy sự đồng thuận cao về tính cần thiết và sẵn sàng thử nghiệm. Các ưu tiên hàng đầu trong thiết kế robot bao gồm giao diện trực quan, hỗ trợ giọng nói tiếng Việt, vỏ ngoài an toàn, bền bỉ và có phản hồi đa phương tiện. Mặc dù cơ sở vật chất như tivi thông minh hay máy tính bảng đã có sẵn, những rào cản chính vẫn là chi phí, độ phức tạp khi sử dụng và nhu cầu được tập huấn. Từ những phát hiện này, nghiên cứu đã đề xuất một bộ yêu cầu thiết kế cụ thể và các kịch bản hoạt động phù hợp theo lứa tuổi. Kết quả không chỉ lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trong nước mà còn cung cấp cơ sở cho việc phát triển sản phẩm nội địa, bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên và gợi ý các chính sách liên quan đến tiêu chuẩn và đầu tư công nghệ.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 125

Nghiên cứu khảo sát cấu trúc năng lực sư phạm số của giảng viên ở Trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Những nghiên cứu gần đây cho thấy thiếu đo lường đa chiều trong cấu trúc năng lực sư phạm số, chưa nhất quán về quan hệ giữa các thành phần năng lực và chưa rõ mức độ khác biệt theo đặc điểm cá nhân giảng viên. Nghiên cứu đã khảo sát trên 200 giảng viên, thuộc 16 đơn vị có giảng viên tham gia giảng dạy trong học kì 1 năm học 2025-2026. Khảo sát sử dụng thang Likert đo: 1) Nhận thức và thái độ về chuyển đổi số, 2) Năng lực sử dụng công nghệ số trong dạy học, 3) Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học số, 4) Năng lực kiểm tra, đánh giá bằng công nghệ số, 5) Hỗ trợ và hợp tác nghề nghiệp. Dữ liệu được phân tích thống kê, điểm trung bình từ 3,5 đến 3,7 theo thang điểm 5,0 đã thể hiện thực trạng năng lực sư phạm số; các yếu tố tương quan mức trung bình; không có khác biệt theo đặc điểm cá nhân. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tích cực trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển chuyên môn và đóng góp vào quá trình chuẩn hóa khung đo lường năng lực sư phạm số của giảng viên trong giáo dục đại học.