Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 108
Giáo dục thường xuyên - một thành tố của hệ thống giáo dục quốc dân - có vai trò cung cấp cơ hội học tập linh hoạt, bình đẳng, góp phần xóa mù chữ, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và xây dựng xã hội học tập. Bài viết phân tích tiến trình phát triển của chính sách giáo dục thường xuyên qua các giai đoạn: Bình dân học vụ, Bổ túc văn hóa, Giáo dục bổ túc và hiện nay là Phát triển giáo dục thường xuyên theo hướng thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập. Trên cơ sở phương pháp lịch sử và nghiên cứu văn bản, bài viết cung cấp góc nhìn toàn cảnh về các chính sách phát triển giáo dục thường xuyên trong 80 năm qua, từ đó đề xuất một số định hướng chính sách phát triển giáo dục thường xuyên giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2045, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, Cách mạng 4.0 và phát triển bền vững nguồn nhân lực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 125
Bài viết phân tích quá trình đổi mới giáo dục mầm non Việt Nam giai đoạn 1998-2025, tập trung vào các chính sách, chương trình nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng tiếp cận và đảm bảo công bằng, hòa nhập cho trẻ em. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng, dựa trên tài liệu pháp luật, báo cáo quốc gia và số liệu thống kê. Kết quả cho thấy giáo dục mầm non đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển toàn diện trẻ và thúc đẩy bình đẳng xã hội, song vẫn còn nhiều khó khăn về nguồn lực và sự chênh lệch giữa các vùng miền. Bài viết đề xuất các định hướng chính sách và chiến lược phát triển giáo dục mầm non sau năm 2025 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và phù hợp với xu thế quốc tế về công bằng và hòa nhập trong giáo dục sớm. Nghiên cứu góp phần làm rõ hành trình đổi mới, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách giáo dục mầm non trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 99
Bài viết này phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống trường Trung học phổ thông chuyên tại Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích lịch sử - chính sách và tổng hợp, so sánh, bài viết làm rõ các giai đoạn chính: Hình thành (1965–1975), Mở rộng (1975–2000), Hội nhập (2000–2020) và Hiện đại hóa (2020–nay). Kết quả cho thấy, hệ thống trường chuyên đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong việc đào tạo học sinh tài năng, đặc biệt là thành tích tại các kì thi Olympic quốc tế, đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ những hạn chế như thiên lệch về thành tích thi cử, áp lực tâm lí lên học sinh và sự bất bình đẳng về cơ hội giữa các vùng miền. Dựa trên các khung lí thuyết về giáo dục tài năng của Gagné và Renzulli, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách nhằm chuyển đổi từ triết lí “tuyển chọn tinh hoa” sang “ươm mầm và nuôi dưỡng tiềm năng”, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái giáo dục tài năng toàn diện, công bằng và linh hoạt hơn.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 129
Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn nhân lực có kĩ năng nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thông qua việc phân tích tài liệu chuyên sâu kết hợp với phân tích kết quả khảo sát thực địa 700 doanh nghiệp, 50 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 7.000 lao động liên quan đến các nhóm nghề: 1-Công nghệ thông tin; điện tử viễn thông; 2-Điện, điện tử; tự động hóa; nghiên cứu đã phân tích thực trạng phát triển giáo dục nghề nghiệp trong 10 năm qua, nhu cầu lao động qua đào tạo nghề đến năm 2030, cũng như nhu cầu đào tạo, đào tạo lại theo ngành/nghề chịu tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ đào tạo của lao động qua giáo dục nghề nghiệp cơ bản đã đáp ứng được so với yêu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực có kĩ năng nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và nhu cầu về kĩ năng mới và ngành nghề mới xuất hiện trước xu hướng tự động hoá, điện tử hoá, số hoá, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 126
Nghiên cứu này phân tích tác động của Nghị quyết số 14-NQ/ TW ngày 11 tháng 01 năm 1979 của Bộ Chính trị về Cải cách giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn 1979-1986, đồng thời làm rõ mâu thuẫn giữa tầm nhìn lí luận của cải cách và khó khăn thực tiễn trong bối cảnh lịch sử đầy thử thách. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam sau năm 1975 và cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung mô tả quá trình cải cách hoặc hệ thống chính sách giáo dục mà chưa phân tích sâu tác động của Nghị quyết 14 trong mối quan hệ với bối cảnh kinh tế - xã hội giai đoạn 1979 1986. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc tổng hợp và phân tích các văn bản chính sách, lịch sử giáo dục và các số liệu kinh tế - xã hội của giai đoạn này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Nghị quyết 14 đã trực tiếp định hình mục tiêu cốt lõi là đào tạo “con người mới xã hội chủ nghĩa” phát triển toàn diện, người lao động làm chủ tập thể và đề ra cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới. Tuy nhiên, việc triển khai gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế, dẫn đến thiếu hụt nguồn lực, giảm chất lượng giáo dục và cơ sở vật chất xuống cấp. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ tác động của Nghị quyết 14 dưới góc độ thực thi chính sách giáo dục trong điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 124
Bài viết phân tích sự phát triển của quan niệm và chính sách về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh trong trường học ở Việt Nam, nhằm làm rõ các xu hướng chuyển dịch, thành tựu, thách thức và định hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu xuất phát từ khoảng trống về các phân tích có tính hệ thống, liên kết giữa tiến trình lịch sử, khung chính sách và bối cảnh chuyển đổi số đối với vấn đề này. Trên cơ sở tiếp cận định tính, bài viết sử dụng tổng quan tài liệu, phân tích chính sách và hồi cứu lịch sử để tổng hợp, diễn giải các nguồn dữ liệu liên quan. Kết quả cho thấy môi trường giáo dục ở Việt Nam đã chuyển từ cách tiếp cận thiên về quản lí kỉ luật sang định hướng phát triển toàn diện, chú trọng an toàn tâm lí, quan hệ xã hội tích cực và vai trò chủ thể của học sinh. Hệ thống chính sách cũng mở rộng từ bảo đảm điều kiện học tập sang tích hợp phòng chống bạo lực học đường, hỗ trợ tâm lí và bảo vệ học sinh trong môi trường số. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức về điều kiện triển khai, nguồn lực và khoảng cách giữa quy định với thực tiễn.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 142
Nghiên cứu phân tích xu hướng và thực trạng các công bố nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001-2025 thông qua áp dụng phương pháp trắc lượng thư mục đối với 1,005 bài báo trên các tạp chí lĩnh vực giáo dục chỉ mục SCOPUS. Kết quả cho thấy, hoạt động nghiên cứu bắt đầu tăng trưởng năm 2016 và tăng nhanh từ năm 2020. Tập trung giai đoạn 2020 2025, phần lớn bài báo công bố trên các tạp chí chất lượng Q1 và Q2. Từ kết quả phân tích dữ liệu SCOPUS, mạng lưới các quốc gia hợp tác chặt chẽ nhất với Việt Nam trong tổng số 46 quốc gia trên thế giới là Úc. Phần lớn nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam được thực hiện bởi các tác giả người Việt, trong đó các tác giả đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có nhiều đóng góp nhất. Các nhóm và các chủ đề nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đã nắm bắt xu hướng các vấn đề nghiên cứu trên thế giới, đồng thời các vấn đề nghiên cứu đặc trưng của giáo dục và đào tạo Việt Nam cũng được quan tâm nghiên cứu. Giáo dục đại học và giáo dục phổ thông là hai cấp bậc có xu hướng tăng trưởng nhanh nhất. Các phát hiện này giúp cho các nhà chính sách, các nhà quản lí giáo dục tham khảo và đưa ra chiến lược phát triển ngành và định hướng nghiên cứu trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 135
Bài báo phân tích tiến trình phát triển chương trình giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Việt Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu lịch sử, chính sách và văn bản pháp luật, kết quả cho thấy quá trình phát triển trải qua bốn giai đoạn chính: 1) 1945 - 1975: Hình thành những mô hình giáo dục chuyên biệt ban đầu, chủ yếu mang tính thiện nguyện và nhân đạo; 2) 1975 - 1986: Xây dựng thể chế và mở rộng hệ thống trường lớp chuyên biệt; 3) 1986 - 2010: Định hình giáo dục hòa nhập, chịu ảnh hưởng của các cam kết quốc tế như Công ước về Quyền Trẻ em (1990), Tuyên bố Salamanca (1994); 4) 2010 - 2025: Thể chế hóa toàn diện, tập trung nâng cao chất lượng và bảo đảm công bằng trong giáo dục. Bài báo cũng chỉ ra các thành tựu trong phát triển chương trình, song vẫn tồn tại hạn chế về tính hệ thống, phát triển và phù hợp với trẻ em khuyết tật. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển chương trình theo tiếp cận quyền, chú trọng cá nhân hóa, chuyển đổi số nhằm tiến tới một hệ thống giáo dục công bằng và chất lượng cho mọi trẻ em khuyết tật.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 108
Bài viết đã tìm hiểu, phân tích, so sánh về mục tiêu giáo dục, hệ thống các môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học của các chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình 1981, Chương trình 2006 và Chương trình 2018), gắn với hai lần đổi mới Chương trình. Kết quả cho thấy, giáo dục toàn diện ở tiểu học luôn được quan tâm. Qua các lần đổi mới, mục tiêu giáo dục, hệ thống các môn học và hoạt động giáo dục cũng đã có những đổi mới, phát triển phù hợp bối cảnh, điều kiện, yêu cầu đối với giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn đồng thời chương trình ngày càng hiện đại, theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học và tiếp cận xu thế hiện đại về phát triển chương trình. Qua đó chỉ ra một số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho việc thực hiện chương trình và phát triển chương trình giai đoạn tới.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 168
Bài báo tổng quan tiến trình đổi mới Chương trình Giáo dục phổ thông tại Việt Nam, tập trung vào sự chuyển dịch từ cách tiếp cận nội dung (Chương trình 2006) sang tiếp cận năng lực (chương trình 2018). Trên cơ sở phân tích hồi cứu các văn bản chính sách như Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 91/NQ-CP, kết hợp với dữ liệu quốc gia và quốc tế (PISA 2022, TALIS 2018), nghiên cứu làm rõ những thay đổi trong cấu trúc chương trình, phương pháp kiểm tra đánh giá và ứng dụng công nghệ. Kết quả cho thấy, Chương trình mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực song vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục quan tâm như thiếu hụt đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất chưa đồng đều và nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin. Bài báo đề xuất một số định hướng chính sách nhằm tăng cường đầu tư nguồn lực và hạ tầng, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai chương trình trong giai đoạn tiếp theo.