Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 250
Bài viết khai thác việc vận dụng quy trình tư duy thiết kế (Design Thinking) vào giảng dạy chuyên đề Địa lí lớp 12. Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thực nghiệm sư phạm thông thiết kế bài kiểm tra sau tác động trên một nhóm học sinh được chọn ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người học không chỉ nâng cao các năng lực Địa lí và phẩm chất cá nhân mà còn phát triển khả năng chuyển hóa kiến thức thành các sản phẩm có giá trị thực tiễn. Đây là một trong những nghiên cứu khởi đầu cho việc đưa tư duy thiết kế vào dạy học Địa lí - một hướng tiếp cận mới nhằm đổi mới phương pháp giáo dục trong bối cảnh hiện đại. Bằng cách đó, nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lí luận cho lĩnh vực giáo dục Địa lí mà còn cung cấp một mô hình tổ chức dạy học cụ thể, khả thi, hỗ trợ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới từ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, từ đó góp phần xây dựng môi trường học tập sáng tạo và nhân văn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 173
Hiện tượng “Zombie học đường” trong bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay được nghiên cứu này thể hiện qua các biểu hiện và thang đo được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó và được cụ thể hóa qua nhiều lần kiểm tra bằng nghiên cứu định tính. Từ đó, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được thực hiện với dữ liệu thu thập được từ khảo sát 999 sinh viên đại học để kiểm tra ảnh hưởng của hiện tượng “Zombie học đường” đến động lực và kết quả học tập. Kết quả cho thấy sự tồn tại của “Zombie học đường” ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến động lực học tập, từ đó làm suy giảm kết quả học tập. Các biểu hiện thiếu sự tự chủ và thiếu sự tham gia của người khác có ảnh hưởng mạnh nhất tới động lực học tập của người học và động lực học tập có ảnh hưởng thuận chiều tới kết quả học tập. Từ đó, một số khuyến nghị giải pháp đã được đề xuất nhằm xây dựng môi trường học tập tích cực, tăng cường sự tham gia, giảm thiểu tình trạng “Zombie học đường”. Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi sinh viên đại học tại Việt Nam, mở ra cơ hội cho các nghiên cứu tương tự ở các bối cảnh khác.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 159
Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên Khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Thương Mại, gồm: 1) Sự hỗ trợ của giáo viên, 2) Tính cách, 3) Sự tự tin, 4) Môi trường học, 5) Kiến thức, 6) Động lực, 7) Chủ đề giao tiếp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, thu thập dữ liệu thông qua khảo sát, xử lí và phân tích dữ liệu thông qua phương pháp kiểm định mô hình giả thuyết nghiên cứu, phân tích nhân tố và phân tích hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường học là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên, theo sau lần lượt là hai yếu tố: Chủ đề giao tiếp và động lực. Ngược lại, yếu tố kiến thức tác động ngược chiều đến mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên. Dựa trên kết quả này, tác giả đưa ra một số đề xuất cho sinh viên và giáo viên nhằm giúp cải thiện mức độ sẵn sàng giao tiếp của sinh viên trong lớp học tiếng Anh, góp phần giúp các em thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiệu quả hơn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 197
Giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập, cần nghiên cứu đề xuất các giải pháp khắc phục, đảm bảo quyền được tiếp cận giáo dục mầm non của trẻ em là con công nhân làm việc trong các khu công nghiệp. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn có khu công nghiệp, bằng phương pháp tổng hợp các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ quy định các chính sách phát triển giáo dục mầm non; hồi cứu tài liệu của các cơ quan quản lí nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo); tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, kết quả khảo sát, nghiên cứu lí luận và thực tiễn của các tổ chức và cá nhân về các vấn đề liên quan, bài báo chỉ ra kết quả đạt được và những khoảng trống, rào cản trong cơ chế, chính sách, khuyến nghị Chính phủ và chính quyền địa phương giải pháp phát triển giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp, đảm bảo quyền trẻ em là con công nhân, người lao động.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 273
Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá mức độ đạt được về năng lực dạy học tích hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững của sinh viên ngành Sư phạm Sinh học tại một số trường đại học ở Việt Nam. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dưới dạng Google form được sử dụng để khảo sát 151 sinh viên năm thứ tư ngành Sư phạm Sinh học tại 7 trường đại học sư phạm của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hạn chế ở một số tiêu chí và chỉ số của năng lực này như: nhận thức về các lĩnh vực liên quan đến ESD, mối quan hệ giữa kiến thức môn Sinh học và các nội dung ESD; kĩ năng xác định chủ đề tích hợp ESD gắn với bối cảnh địa phương, mối quan hệ giữa kiến thức môn Sinh học và các nội dung ESD trong chủ đề tích hợp, xây dựng và duy trì môi trường học tập liên quan đến các vấn đề phát triển bền vững; đánh giá, cung cấp những phản hồi kết quả học tập của học sinh trong dạy học tích hợp ESD; khả năng kết nối, tương tác và đóng góp với đồng nghiệp, phụ huynh hay cộng đồng trong quá trình dạy học tích hợp ESD. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lí giáo dục, giảng viên và các bên liên quan trong việc nâng cao chất lượng đào tạo năng lực dạy học tích hợp nói chung, tích hợp ESD nói riêng cho giáo viên môn Sinh học tại các trường đại học hiện nay.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 175
Bồi dưỡng thường xuyên là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí đang làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non. Nghiên cứu đã thống kê, phân tích số liệu kết quả tham gia bồi thường xuyên của giáo viên, cán bộ quản lí trong cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Bài báo chỉ ra được những vấn đề thực tiễn của công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục mầm non hiện nay. Từ đó có các giải pháp, định hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, cán bộ quản lí trong cơ sở giáo dục mầm non được tốt hơn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 148
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lí lớp học và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học, thực hiện tại 12 trường ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp bao gồm khảo sát định lượng (120 giáo viên, 240 học sinh), quan sát lớp học (36 tiết), phỏng vấn sâu và phân tích sản phẩm học tập. Kết quả cho thấy, còn nhiều hạn chế như quản lí lớp học mang tính áp đặt, học sinh ít tham gia xây dựng nội quy, phương pháp đánh giá chưa đa dạng và kĩ năng tự học còn yếu. Đặc biệt, chỉ 15,65% học sinh đạt mức khá và tốt về kĩ năng tự học, trong đó kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập và tìm kiếm xử lí thông tin là yếu nhất. Dựa trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện theo ba cấp độ: Xây dựng môi trường học tích cực, đổi mới phương pháp dạy và đánh giá, hướng dẫn kĩ năng cụ thể như lập kế hoạch, tự đánh giá, tìm kiếm thông tin và ứng dụng công nghệ. Thực nghiệm tại ba trường cho thấy, sau 3 tháng áp dụng, tỉ lệ học sinh đạt mức khá và tốt về kĩ năng tự học tăng lên 26,4%, đồng thời cải thiện hiệu quả quản lí lớp học. Các giải pháp có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 186
Nghiên cứu này nhằm phát triển và kiểm định công cụ đo đánh giá các hoạt động STEM của học sinh trung học cơ sở tại Việt Nam. Cấu trúc bốn yếu tố của STEM được xác định bao gồm Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học. Phân tích được thực hiện với mẫu gồm 656 giáo viên và học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Phân tích nhân tố khám phá và khẳng định đã xác nhận mô hình đầy đủ ban đầu gồm 40 mục hỏi và đề xuất một cấu trúc rút gọn với 20 mục được phân bổ lại, có các chỉ số độ phù hợp tốt. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận mô hình cấu trúc đẳng phân của các nhân tố, độ tin cậy và tính nhất quán của thang đo trong việc đánh giá các hoạt động STEM ở trường trung học cơ sở, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải điều chỉnh khái niệm về các hoạt động STEM trong kỉ nguyên số.