Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hướng tới bình đẳng giới và hội nhập quốc tế, việc lồng ghép giới ở cấp Tiểu học trở nên cần thiết nhằm hình thành nhận thức và thái độ bình đẳng ngay từ bậc học nền tảng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng lồng ghép giới trong các hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích lí thuyết với khảo sát 420 học sinh và 120 giáo viên, cán bộ quản lí tại 12 trường tiểu học, sử dụng thang Likert 5 bậc, phân tích hồ sơ dạy học và quan sát hoạt động giáo dục. Kết quả cho thấy hoạt động lồng ghép giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng trong học tập và rèn luyện kĩ năng sống, nhưng vẫn còn hạn chế về phạm vi, chiều sâu, năng lực giáo viên và sự phối hợp giữa nhà trường, phụ huynh và cộng đồng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng môi trường giáo dục công bằng, hòa nhập và bền vững, đồng thời đóng góp vào nâng cao năng lực giáo viên và định hướng chương trình giáo dục giới tính phù hợp cho học sinh tiểu học.
Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về kĩ năng mềm và đặc trưng lao động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học trong bối cảnh hiện nay, qua đó đề xuất hệ thống kĩ năng mềm cần phát triển cho đội ngũ này. Hệ thống kĩ năng mềm được đề xuất phát triển cho giáo viên tiểu học gồm hai nhóm: nhóm kĩ năng phát triển bản thân (5 kĩ năng) và nhóm kĩ năng tương tác với người khác (5 kĩ năng). Trên cơ sở mô hình phát triển năng lực cá nhân trong công việc (70:20:10), bài viết cũng đề xuất con đường phát triển kĩ năng mềm cho giáo viên tiểu học, vừa từ góc độ tự thân của mỗi giáo viên vừa từ góc độ quản lí và lãnh đạo nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho việc xây dựng chương trình bồi dưỡng và hỗ trợ phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học.
Nghiên cứu này là kết quả khảo sát 23 giảng viên và 261 sinh viên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch dựa trên yêu cầu đối với chương trình học phần được phát triển và điều chỉnh từ bộ công cụ của Mạng lưới Đại học ASEAN - Đảm bảo Chất lượng (AUN-QA). Trên cơ sở kết hợp xử lí dữ liệu câu hỏi mở đối với sinh viên về ưu điểm, hạn chế và mong muốn đối với học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch, bài báo đưa ra những đánh giá về thực trạng chương trình học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học phần Tiếng Anh chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cử nhân các ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.
Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam ngày càng hội nhập và cạnh tranh, việc xây dựng và phát triển thương hiệu trường học, đặc biệt ở các trường tiểu học trở thành một yếu tố then chốt nhằm khẳng định uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu này tập trung phân tích cơ sở để đưa ra tiêu chí nhận diện, đánh giá thương hiệu giáo dục nói chung, thương hiệu trường tiểu học tại Việt Nam nói riêng. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng, thương hiệu trường học không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình mà còn bao hàm cả những yếu tố vô hình. Kết quả nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí nhận diện và đánh giá thương hiệu gồm bốn nhóm chính: 1) Nhận diện trực quan, 2) Thông điệp và giá trị, 3) Trải nghiệm thương hiệu, 4) Hình ảnh-uy tín trong cộng đồng (Reputation & Trust). Bộ tiêu chí này không chỉ cung cấp công cụ đánh giá khách quan và toàn diện hơn cho các cơ sở giáo dục tư thục mà còn là cơ sở để hoạch định chiến lược truyền thông, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Nghiên cứu khảo sát cấu trúc năng lực sư phạm số của giảng viên ở Trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Những nghiên cứu gần đây cho thấy thiếu đo lường đa chiều trong cấu trúc năng lực sư phạm số, chưa nhất quán về quan hệ giữa các thành phần năng lực và chưa rõ mức độ khác biệt theo đặc điểm cá nhân giảng viên. Nghiên cứu đã khảo sát trên 200 giảng viên, thuộc 16 đơn vị có giảng viên tham gia giảng dạy trong học kì 1 năm học 2025-2026. Khảo sát sử dụng thang Likert đo: 1) Nhận thức và thái độ về chuyển đổi số, 2) Năng lực sử dụng công nghệ số trong dạy học, 3) Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học số, 4) Năng lực kiểm tra, đánh giá bằng công nghệ số, 5) Hỗ trợ và hợp tác nghề nghiệp. Dữ liệu được phân tích thống kê, điểm trung bình từ 3,5 đến 3,7 theo thang điểm 5,0 đã thể hiện thực trạng năng lực sư phạm số; các yếu tố tương quan mức trung bình; không có khác biệt theo đặc điểm cá nhân. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tích cực trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển chuyên môn và đóng góp vào quá trình chuẩn hóa khung đo lường năng lực sư phạm số của giảng viên trong giáo dục đại học.

