Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 133
Bài viết phân tích tiến trình đổi mới Chương trình Giáo dục mầm non Việt Nam từ năm 1945 đến nay, nhằm bổ sung khoảng trống nghiên cứu về thiếu vắng các phân tích tổng hợp về cải cách chương trình trước những thay đổi của yêu cầu mới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu kết hợp tiếp cận lịch sử – so sánh, dựa trên hệ thống văn bản chính sách, các chương trình giáo dục mầm non chính thức, cùng với các tài liệu định hướng của UNESCO, UNICEF, OECD… và các nghiên cứu liên quan. Kết quả cho thấy, Chương trình Giáo dục mầm non Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi từ giai đoạn chưa có chương trình chính thức, chủ yếu tập trung chăm sóc - giữ trẻ, sang xây dựng chương trình mang tính nội dung và đạt bước ngoặt quan trọng với việc ban hành chương trình khung năm 2009 theo định hướng lấy trẻ làm trung tâm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đổi mới chương trình sau 2025 theo hướng tiếp cận năng lực, công bằng, hòa nhập và hội nhập quốc tế, đồng thời đưa ra gợi ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham chiếu khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, quản lí giáo dục và chuyên gia phát triển chương trình.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 89
Trong bối cảnh kỉ niệm 80 năm ngành Giáo dục Việt Nam (1945-2025), nghiên cứu này nhìn lại hành trình 60 năm phát triển của hệ thống trường trung học phổ thông chuyên thông qua lăng kính của 30 cựu học sinh đến từ 16 trường chuyên trên cả nước, thuộc nhiều thế hệ và lĩnh vực công tác khác nhau. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với công cụ phỏng vấn sâu nhằm khám phá những trải nghiệm học tập, những ảnh hưởng của trường chuyên đối với sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp của các cựu học sinh. Kết quả cho thấy, trường chuyên đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tri thức chuyên sâu, tạo dựng môi trường học tập cạnh tranh tích cực và mang lại lợi thế nghề nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên, các cựu học sinh cũng chia sẻ nhiều thách thức của hệ thống này như áp lực thi cử, vấn đề sức khỏe tâm lí và yêu cầu cân bằng giữa đào tạo chuyên sâu với phát triển kĩ năng liên ngành trong bối cảnh toàn cầu hóa. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất định hướng xây dựng hệ thống trường chuyên theo hướng nhân văn, bền vững hơn nhắm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 129
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, hệ sinh thái số với Internet, mạng xã hội và AI đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của thanh thiếu niên. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào những nguy cơ như nghiện Internet, gian lận học thuật hay khủng hoảng tâm lí; đồng thời đề xuất các biện pháp quản lí hành vi và tăng cường kĩ năng số nhưng còn thiếu cách tiếp cận hệ thống về sự chuyển dịch hệ giá trị trong thời đại số. Bài viết chỉ ra rằng các giá trị truyền thống như trách nhiệm, trung thực, nhân ái,... không mất đi mà được hiện đại hóa thành trách nhiệm công dân số, liêm chính học thuật số và năng lực phản biện thông tin. Trên cơ sở đó, đề xuất đổi mới giáo dục giá trị theo hướng trải nghiệm, tích hợp công nghệ và lấy người học làm trung tâm nhằm đáp ứng yêu cầu hình thành công dân toàn cầu trong bối cảnh mới.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 118
Phổ cập giáo dục là chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm công bằng xã hội. Bài viết khái quát tiến trình phổ cập giáo dục ở Việt Nam từ 1945 đến nay, phân tích cơ sở chính sách, pháp lí và đánh giá những thành tựu, thách thức trong quá trình triển khai. Việt Nam đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và duy trì vững chắc kết quả đạt được. Tuy nhiên, chất lượng chưa đồng đều, chênh lệch giữa các vùng miền và yêu cầu đổi mới giáo dục và bối cảnh hội nhập, chuyển đổi số đặt ra nhiều thách thức mới. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng chính sách phát triển phổ cập giáo dục đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, nhấn mạnh việc duy trì bền vững các cấp học đã phổ cập, tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông, gắn phổ cập với phân luồng, giáo dục nghề nghiệp và học tập suốt đời. Những định hướng này góp phần xây dựng nền giáo dục toàn diện, công bằng và hiện đại và thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 97
Bài viết phân tích tiến trình biến đổi của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 1993 - 2019 dựa trên khung lí thuyết về thể chế hóa và chuẩn hóa trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Thông qua phương pháp phân tích hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, nghiên cứu làm rõ logic vận động từ việc kiến tạo khung thể chế (khởi nguồn từ Nghị định 90/CP đến hệ thống Luật Giáo dục), làm nền tảng cho sự hình thành các bộ chuẩn hóa (chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất), từ đó từng bước hình thành cơ chế quản lí, hệ thống bảo đảm chất lượng và nền tảng quản trị giáo dục quốc gia. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu thể chế hóa giúp định hình hành lang pháp lí thống nhất và chuẩn hóa thúc đẩy mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục thì mô hình quản trị hiện hữu vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống. Nghiên cứu cho thấy vẫn tồn tại những hạn chế mang tính hệ thống, trong đó đáng chú ý là sự giao thoa giữa chức năng quản lí nhà nước và quản trị cơ sở giáo dục. Nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của khoảng cách giữa thành tích học tập được ghi nhận qua các đánh giá quốc tế như PISA và khả năng chuyển hóa thành năng lực thực tiễn của nguồn nhân lực. Trên cơ sở đánh giá giai đoạn 1993 - 2019 là bước “đặt nền móng chuẩn hóa”, bài viết đề xuất định hướng dịch chuyển chính sách theo lộ trình hiện đại hóa: Chuyển từ quản trị tập trung sang quản trị dựa trên trách nhiệm giải trình và từ chuẩn hóa hình thức sang chuẩn hóa dựa trên năng lực thực chất nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững tầm nhìn 2045.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 110
Trong bối cảnh cả nước tổng kết 80 năm phát triển giáo dục và yêu cầu phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số, việc nhìn lại toàn diện quá trình phát triển giáo dục dân tộc có ý nghĩa cấp thiết. Giai đoạn 1945- 2025 ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng: Xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, phát triển hệ thống trường nội trú, bán trú, đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn văn hóa và giảm nghèo bền vững. Những đổi mới gần đây như triển khai Chương trình, Sách giáo khoa mới, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng trường học hạnh phúc tiếp tục khẳng định vai trò then chốt của lĩnh vực này. Tuy vậy, các nghiên cứu hiện còn thiếu những tổng quan hệ thống, xuyên suốt toàn bộ tiến trình 80 năm, đồng thời chưa làm rõ sự chuyển đổi mô hình phát triển và các hàm ý chính sách. Bài báo sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, kết hợp tiếp cận lịch sử và so sánh để phân tích toàn diện. Kết quả cho thấy, giáo dục dân tộc không chỉ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ mà còn có vai trò chiến lược trong củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy phát triển bền vững.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 108
Giáo dục thường xuyên - một thành tố của hệ thống giáo dục quốc dân - có vai trò cung cấp cơ hội học tập linh hoạt, bình đẳng, góp phần xóa mù chữ, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và xây dựng xã hội học tập. Bài viết phân tích tiến trình phát triển của chính sách giáo dục thường xuyên qua các giai đoạn: Bình dân học vụ, Bổ túc văn hóa, Giáo dục bổ túc và hiện nay là Phát triển giáo dục thường xuyên theo hướng thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập. Trên cơ sở phương pháp lịch sử và nghiên cứu văn bản, bài viết cung cấp góc nhìn toàn cảnh về các chính sách phát triển giáo dục thường xuyên trong 80 năm qua, từ đó đề xuất một số định hướng chính sách phát triển giáo dục thường xuyên giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2045, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, Cách mạng 4.0 và phát triển bền vững nguồn nhân lực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 125
Bài viết phân tích quá trình đổi mới giáo dục mầm non Việt Nam giai đoạn 1998-2025, tập trung vào các chính sách, chương trình nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng tiếp cận và đảm bảo công bằng, hòa nhập cho trẻ em. Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng, dựa trên tài liệu pháp luật, báo cáo quốc gia và số liệu thống kê. Kết quả cho thấy giáo dục mầm non đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển toàn diện trẻ và thúc đẩy bình đẳng xã hội, song vẫn còn nhiều khó khăn về nguồn lực và sự chênh lệch giữa các vùng miền. Bài viết đề xuất các định hướng chính sách và chiến lược phát triển giáo dục mầm non sau năm 2025 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và phù hợp với xu thế quốc tế về công bằng và hòa nhập trong giáo dục sớm. Nghiên cứu góp phần làm rõ hành trình đổi mới, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách giáo dục mầm non trong tương lai.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 99
Bài viết này phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống trường Trung học phổ thông chuyên tại Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích lịch sử - chính sách và tổng hợp, so sánh, bài viết làm rõ các giai đoạn chính: Hình thành (1965–1975), Mở rộng (1975–2000), Hội nhập (2000–2020) và Hiện đại hóa (2020–nay). Kết quả cho thấy, hệ thống trường chuyên đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong việc đào tạo học sinh tài năng, đặc biệt là thành tích tại các kì thi Olympic quốc tế, đóng góp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ những hạn chế như thiên lệch về thành tích thi cử, áp lực tâm lí lên học sinh và sự bất bình đẳng về cơ hội giữa các vùng miền. Dựa trên các khung lí thuyết về giáo dục tài năng của Gagné và Renzulli, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách nhằm chuyển đổi từ triết lí “tuyển chọn tinh hoa” sang “ươm mầm và nuôi dưỡng tiềm năng”, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái giáo dục tài năng toàn diện, công bằng và linh hoạt hơn.