Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 371
Chuyển đổi số đang làm thay đổi cách tiếp cận tri thức và phương thức học tập ở bậc Đại học đặt ra yêu cầu phát triển năng lực tự học và sẵn sàng học tập suốt đời cho sinh viên. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng tự học và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành phương pháp tự học của sinh viên Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi. Thiết kế định lượng cắt ngang được áp dụng với 1.007 sinh viên thông qua bảng hỏi gồm năm nhóm nội dung: Động lực học tập, thói quen tự học, tác động của giảng viên và môi trường học tập, kĩ năng tự học và sẵn sàng học tập suốt đời. Kết quả cho thấy, chỉ 39,23% sinh viên có phương pháp tự học cụ thể, trong khi hơn 83,52% nhận thức được tầm quan trọng của tự học, thể hiện khoảng cách giữa nhận thức và hành vi. Mô hình hồi quy logistic nhị phân được sử dụng để ước lượng xác suất sinh viên có phương pháp tự học cụ thể, trong đó thời lượng tự học mỗi ngày là biến dự báo hành vi mạnh nhất (p < 0,001) còn các yếu tố khác có tác động vừa hoặc hạn chế. Nghiên cứu đề xuất tích hợp kĩ năng tự học vào chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tự chủ và gắn năng lực tự học trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 247
Kĩ năng ghi chép ngày nay không chỉ đơn thuần là hành vi sao chép thông tin mà đã trở thành một năng lực học thuật quan trọng, hỗ trợ người học trong việc xử lí, tổ chức và lưu giữ tri thức. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các kĩ thuật ghi chép hiệu quả và khả năng nghe hiểu của sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh trong bối cảnh học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL), một lĩnh vực còn ít được nghiên cứu trong bối cảnh giáo dục ngôn ngữ tại Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát 107 sinh viên đại học chuyên ngành Tiếng Anh (EFL English - major undergraduates), nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng chính. Kết quả chỉ ra năm nhóm thành phần chủ yếu: Kĩ năng cá nhân, tổ chức nội dung, trực quan và kí hiệu, ngôn ngữ và viết tắt, tốc độ và lượng thông tin ghi chép. Trong đó, tổ chức nội dung là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng nghe hiểu của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy kĩ thuật ghi chép hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kĩ năng nghe học thuật và cần được tích hợp vào quá trình giảng dạy kĩ năng nghe trong bối cảnh EFL. Ngoài ra, kết quả gợi ý rằng, việc đào tạo kĩ năng ghi chép nhấn mạnh vào tổ chức nội dung nên được tích hợp có hệ thống vào chương trình nghe học thuật nhằm tối đa hóa hiệu quả hiểu bài của người học. Nghiên cứu mang lại những hàm ý thực tiễn cho giảng viên và cơ sở đào tạo trong việc thiết kế chiến lược giảng dạy và xây dựng hoạt động hỗ trợ giúp người học cải thiện năng lực nghe thông qua các kĩ thuật ghi chép có cấu trúc và cá nhân hóa.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 300
Nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng và kiểm định một thang đo phù hợp, có độ tin cậy để đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh của sinh viên các trường đại học tại Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, bắt đầu với việc tổng quan tài liệu để thiết kế thang đo, sau đó sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành khảo sát qua hai vòng với cỡ mẫu lớn từ nhiều trường đại học và trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh. Dữ liệu thu thập được xử lí bằng phần mềm Stata, thông qua các thống kê mô tả, kiểm nghiệm độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá. Kết quả nghiên cứu đã xác nhận sự phù hợp trong việc xây dựng và kiểm định một thang đo gồm 03 thành tố và 10 chỉ báo. Thang đo này cung cấp một khung đánh giá đa chiều, vừa đo lường kiến thức và kĩ năng thực hành quân sự vừa quan tâm đến phẩm chất công dân, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỉ luật của sinh viên. Nghiên cứu đã đóng góp một công cụ khoa học phù hợp với khung chương trình giáo dục tiếp cận năng lực hiện đại. Kết quả cũng gợi ý cần kiểm định thêm thang đo trên phạm vi rộng hơn và chỉ ra các hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 278
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 277
Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả ứng dụng nền tảng trí tuệ nhân tạo Magic School AI trong giảng dạy môn Tin học lớp 10. Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo cho thấy tiềm năng đáng kể trong việc hỗ trợ thiết kế bài dạy và kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên, các nghiên cứu về những nền tảng AI chuyên biệt cho môn Tin học ở trường phổ thông còn hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp gồm khảo sát định lượng, phân tích lí thuyết và thực nghiệm sư phạm kéo dài 8 tuần tại một trường trung học phổ thông. Magic School AI được tích hợp vào các hoạt động như xây dựng kế hoạch bài dạy, thiết kế đề kiểm tra, phản hồi sản phẩm và phân hóa học sinh. Kết quả cho thấy, lớp sử dụng Magic School AI đạt điểm trung bình 8,63 (SD = 0,98), cao hơn lớp đối chứng (7,62, SD = 1,24), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Giáo viên cũng tiết kiệm được 20 - 30% thời gian chuẩn bị. Nghiên cứu bước đầu khẳng định tính khả thi và hiệu quả của Magic School AI trong dạy học Tin học lớp 10.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 263
Bài báo trình bày việc vận dụng mô hình SAMR (Substitution, Augmentation, Modification, Redefinition) để thiết kế chương trình phát triển năng lực số cho giảng viên tiếng Anh ở các trường đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Nghiên cứu hướng tới khắc phục khoảng trống khi nhiều chương trình bồi dưỡng hiện nay còn thiên về hướng dẫn công cụ, ít tham chiếu có hệ thống các khung năng lực số quốc tế và chưa coi SAMR như một lộ trình phát triển nghề nghiệp. Trên cơ sở tổng hợp DigCompEdu, UNESCO ICT Competency Framework for Teachers (ICT-CFT), TPACK và các văn bản chính sách trong nước, nghiên cứu xây dựng một khung lí luận tích hợp định hướng cho thiết kế chương trình. Phương pháp gồm phân tích, tổng hợp tài liệu và tham vấn nhóm nhỏ cán bộ quản lí giáo dục cùng giảng viên tiếng Anh nhằm rà soát tính phù hợp và khả thi. Kết quả là chương trình bốn mô đun với mục tiêu, chuẩn đầu ra năng lực số gắn theo từng mức SAMR và các sản phẩm minh chứng cụ thể. Đóng góp mới của nghiên cứu nằm ở việc đề xuất một thiết kế chương trình theo trục SAMR được “ánh xạ” sang các miền năng lực số và đầu ra dạng sản phẩm, có thể dùng như khung tham chiếu cho bồi dưỡng nội bộ và làm nền cho nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 270
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và thời kì dân số vàng, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải phát triển giáo dục nghề nghiệp để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển giáo dục nghề nghiệp của bốn quốc gia tiêu biểu gồm Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản và Canada nhằm rút ra các bài học hữu ích cho Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và so sánh quốc tế, tập trung vào các khía cạnh: Chính sách quản lí, liên kết giữa cơ sở đào tạo - doanh nghiệp - Nhà nước, mô hình hướng nghiệp và phát triển kĩ năng nghề. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mô hình đào tạo kép, sự gắn kết chặt chẽ giữa trường nghề và doanh nghiệp, cùng với cơ chế quản lí linh hoạt, đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực lao động. Từ đó, bài viết đề xuất các định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế, lấy người học làm trung tâm, thúc đẩy hợp tác công - tư và ứng dụng công nghệ số trong đào tạo.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 323
Việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi phương thức dạy học tiếng Anh tại đại học, nâng cao chất lượng bài giảng, cá nhân hóa học tập và tăng hiệu quả giảng dạy. Nghiên cứu khảo sát thực trạng quản lí AI trong dạy học tiếng Anh tại Trường Đại học FPT thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với 11 giảng viên. Kết quả cho thấy, các công cụ AI được sử dụng phổ biến, hỗ trợ hoạt động học tập tương tác và cá nhân hóa. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều thách thức: quản lí chưa đồng bộ, năng lực số chưa đồng đều và nguy cơ sinh viên lạm dụng AI. Trên cơ sở này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp: 1) Xây dựng chính sách và hướng dẫn tích hợp AI; 2) Bồi dưỡng kĩ năng số cho giảng viên; 3) Thiết lập học liệu hỗ trợ AI; 4) Thúc đẩy học tập hợp tác; 5) Tăng cường phối hợp giữa giảng viên và nhà trường. Việc tích hợp AI đang thay đổi phương thức dạy học tiếng Anh tại đại học, nâng cao chất lượng bài giảng, cá nhân hóa hgiáo dích hợp trí tuệ nhân g chính sách và triển khai mô hình dạy học ngoại ngữ có ứng dụng AI một cách bền vững, hiệu quả và phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 276
Kiểm định chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông là một trong những công cụ quan trọng nhằm kiểm soát chất lượng, đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, từ đó thúc đẩy cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục. Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục tại Việt Nam thông qua phân tích khung pháp lí hiện hành và thu thập ý kiến từ 807 cán bộ quản lí giáo dục ở các cấp học khác nhau. Kết quả cho thấy, mặc dù hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đã có những bước tiến đáng kể vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết, bao gồm tính độc lập của hoạt động kiểm định, chất lượng đội ngũ thực hiện, sự phù hợp của các tiêu chuẩn với điều kiện thực tế và cơ chế hỗ trợ sau kiểm định. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp đổi mới về chính sách, cơ cấu tổ chức và nội dung tiêu chuẩn nhằm xây dựng một hệ thống kiểm định hiệu quả, phù hợp với bối cảnh Việt Nam và xu hướng quốc tế.
Số: /2026
Số CIT: 0
Số lượt xem: 208
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số đã tạo ra những thay đổi căn bản trong quản lí và lãnh đạo giáo dục. Hiệu trưởng trường phổ thông ngày nay không chỉ dừng lại ở vai trò quản lí hành chính mà cần trở thành nhà lãnh đạo số, người có khả năng kiến tạo tầm nhìn, sử dụng dữ liệu để ra quyết định, xây dựng văn hóa số và thúc đẩy đổi mới dạy học. Trên thế giới, nhiều khung năng lực số như UNESCO ICT-CFT hay DigCompEdu đã được phát triển để định hướng giáo viên và công dân nhưng một khung năng lực toàn diện dành riêng cho hiệu trưởng vẫn còn thiếu vắng, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu nhằm xây dựng bản khung năng lực số khởi thảo cho hiệu trưởng trường phổ thông, trên cơ sở kế thừa các mô hình quốc tế và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh trong nước. Khung năng lực ban đầu gồm 25 thành tố, chia thành năm nhóm lớn: Lãnh đạo và quản lí chiến lược; tích hợp công nghệ số trong dạy học; phát triển năng lực số cho đội ngũ; xây dựng văn hóa số và nâng cao cơ sở hạ tầng số. Đây là bước khởi đầu của quá trình phát triển khung năng lực số, với kế hoạch kiểm chứng và hoàn thiện thông qua tham vấn chuyên gia bằng phương pháp Delphi trong giai đoạn tiếp theo. Khung năng lực khởi thảo này không chỉ mang giá trị học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc định hướng đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ hiệu trưởng, góp phần thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục phổ thông Việt Nam.

