Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 916
Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị đã trở thành phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn của toàn Đảng, toàn dân ta, nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sau hơn bốn năm triển khai thực hiện, phong trào đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Đối với ngành Giáo dục, việc triển khai được thực hiện với nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động sâu rộng, thông qua đó đã tạo được sự thay đổi to lớn trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, đặc biệt là đội ngũ nhà giáo.Trước những yêu cầu và bối cảnh mới của ngành Giáo dục, đòi hỏi đội ngũ nhà giáo không ngừng tự nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, lí luận chính trị và đạo đức cách mạng theo phong cách nêu gương của Hồ Chí Minh.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,117
Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ) là một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu binh chủng hợp thành, cấp phân đội bậc đại học. Do đặc thù về đối tượng và mục tiêu đào tạo nên yêu cầu về năng lực thực hành của học viên luôn được đề cao. Do vậy, để đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đào tạo, việc phát triển năng lực thực hành của học viên là rất quan trọng. Đây được coi là một trong những nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường. Bài báo nhằm phân tích làm rõ một số vấn đề lí luận, thực tiễn và đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực thực hành của học viên Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 908
Học tập trực tuyến (E-learning) mang nhiều ưu điểm vượt trội trong đào tạo đã làm thay đổi mạnh mẽ quá trình tự học do khả năng cá nhân hóa cũng như đáp ứng hiệu quả các hoạt động học tập của người học. Học tập trực tuyến và xây dựng môi trường học tập trực tuyến hiện đang được quan tâm chú ý và đưa vào triển khai trong nhiều trường đại học ở Việt Nam với phạm vi, mức độ khác nhau. Đặc biệt là, trong thời kì hiện nay, khi mà khoa học kĩ thuật rất phát triển, nhiều ứng dụng công nghệ và các sản phẩm công nghệ đã được ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục làm thay đổi phương thức hoạt động giảng dạy và học tập của cả giảng viên và học viên. Công nghệ Dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) đã thay thế con người không chỉ đối với lao động chân tay mà cả lao động trí óc, bao gồm cả việc giảng dạy của giáo viên. Nhiều phần mềm ứng dụng đã được dùng để thay thế con người trong việc truyền đạt kiến thức, kiểm tra và đánh giá chất lượng đào tạo, đặc biệt là các chương trình đào tạo trực tuyến E-learning. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng đầu ra của các chương trình đào tạo trực tuyến này chưa được đánh giá cao so với các chương trình tương tự như vậy trên thế giới. Nguyên nhân của thực trạng này là do quá trình đào tạo, việc dạy và học chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi đưa ra một số phân tích, đánh giá phương pháp dạy và học trực tuyến hiện nay và đề xuất các giải pháp để tăng cường sự tương tác và chủ động trong quá trình dạy và học của giảng viên và học viên để nâng cao chất lượng đào tạo trực tuyến trong thời gian tới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,171
Trong quá trình thực hiện đánh giá kết quả học tập các môn học nói chung và môn Giáo dục học nói riêng theo tiếp cận năng lực, một trong những khâu khó thực hiện nhất là xây dựng được các công cụ để đánh giá năng lực người học, mà trong đó rubric là công cụ có hiệu quả hơn cả. Bài báo làm rõ cách thức xây dựng các rubric đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực bao gồm hai khâu là xây dựng tiêu chí đánh giá các năng lực cụ thể và xây dựng các mức độ đạt được của các tiêu chí đó. Mỗi khâu lại được mô tả chi tiết, cụ thể nhằm làm rõ đặc trưng riêng của đánh giá theo tiếp cận năng lực, qua đó giúp cho giảng viên dạy học môn này có thể tham khảo phục vụ cho quá trình giảng dạy môn học của mình.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,397
Chúng ta đang ở thế kỉ XXI, thế giới đang tiến vào cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư với Internet vạn vật (Internet of Things-IoT), nguồn dữ liệu lớn (Big Data),…Nhiều thành tựu của công nghệ đang được dưa vào giáo dục như Công nghệ thực tế tăng cường (Augmented Reality-AR) và thực tế ảo (Virtual Reality-VR). Để theo kịp đổi mới về công nghệ, bên cạnh việc có được nền tảng kĩ thuật tốt còn cần đổi mới về tư duy cho người học, tăng cường một số kĩ năng của thế kỉ XXI như kĩ năng số, kĩ năng tình cảm xã hội và kĩ năng chuyển đổi. Nhiều nước trên thế giới đã đi đầu trong ứng dụng AR, hay VR trong giáo dục như: Hàn Quốc, Cộng hòa liên bang Đức, Singapore,... và bước đầu cho thấy thế mạnh của ứng dụng công nghệ trong đổi mới giáo dục. Nước ta đang đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận với nền giáo dục của một số nước tiên tiến, vươn tới một nền giáo dục thông minh.Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả với thực tiễn giáo dục nước nhà rất cần học tập kinh nghiệm của các nước, trong đó có Singapore. Bài viết này giới thiệu đôi nét về cách mà Singapore tiếp cận và triển khai ứng dụng công nghệ trong đổi mới giáo dục. Qua đó, có thể học tập được đôi điều cho Việt Nam khi tiếp cận với giáo dục 4.0.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 863
Nghị quyết Trung ương 8 về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã tạo khuôn khổ pháp lí, chính trị làm cơ sở cho một cuộc cải cách sâu rộng trong toàn ngành Giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên là nhân tố trung tâm của quá trình cải cách. Những nhiệm vụ mới đặt ra đòi hỏi đội ngũ người thầy phải ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, có năng lực cao hơn, có tri thức và phương pháp phù hợp để giải quyết những vấn đề thực tiễn, những vấn đề tức thời nảy sinh trên lớp hoặc trong nhà trường. Trong bối cảnh đó, việc đổi mới phương thức tổ chức bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ ở phổ thông trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ này đòi hỏi cần có những bước đột phá mới về cách làm với những quan niệm mới trong nhận thức, đưa công tác bồi dưỡng trở về quỹ đạo thực tiễn, với định hướng tự bồi dưỡng thường xuyên, tại chỗ, với sự hỗ trợ hiệu quả về chuyên môn từ các trường đại học đào tạo chuyên ngoại ngữ. Trong bài viết này, các tác giả đã trình bày những nét chính của Mô hình thực địa bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ phổ thông với hi vọng mô hình sẽ góp thêm một tiếng nói trong những nỗ lực chung của toàn ngành hướng tới việc nghiên cứu và triển khai thử nghiệm những mô hình mới bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 805
Bài báo trình bày thực trạng quản lí chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào đào tạo tại trường đại học khối Nông Lâm trong bối cảnh hiện nay được đánh giá theo 4 tiêu chí (biểu hiện) cơ bản. Mỗi tiêu chí bao gồm 21 thành tố thuộc về nhận thức (Awareness-A) và 4 chức năng trong mô hình quản lí PDCA. Kết quả phân tích thực trạng chung cho thấy, nhiều thành tố được đánh giá tốt thuộc nhóm nhận thức (Awareness-A) và chức năng lập kế hoạch (P) hơn chức năng tổ chức thực hiện (D), kiểm tra giám sát (C) và điều chỉnh bổ sung kế hoạch (A). Kết quả phân tích thực trạng là cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động đặc thù này.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,085
Xây dựng hệ giá trị văn hóa cho học sinh trong trường phổ thông là một bài toán khó, chí ít trên hai phương diện: Thứ nhất là hiểu thế nào về giá trị văn hóa để có thể có sự đồng thuận; Thứ hai là làm thế nào lựa chọn các giá trị văn hóa cốt lõi trong vô vàn giá trị văn hóa để đưa vào nhà trường. Bài viết này muốn tìm lời giải từ một số bài học kinh nghiệm trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về giáo dục giá trị và lựa chọn giá trị trong nhà trường phổ thông của một số nước trên thế giới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 973
Strategy is the end product of strategic planning process, which normally also incorporates the control mechanisms for guiding the implementation of the strategy. Strategic planning looks into the future to paint a picture of that future based on current trends. This presentation describes the strategic planning process of developing the Malaysian Education Blueprint 2013-2025, which is used a reference to transform the Malaysian education system in accordance to the demand of 21st century. The Blueprint was developed with three objectives: 1) Understanding the current performance and challenges of the Malaysian education system, with a focus on improving access to education, raising standards (quality), closing achievement gaps (equity), fostering unity amongst students, and maximizing system efficiency, 2) Establishing a clear vision and aspirations for individual students and the education system as a whole over the next 13 years; and 3) Outlining a comprehensive transformation program for the system, including key changes to the Ministry. Multiple perspectives of inputs were considered in the development of the Blueprint. These included inputs and assessment from various experts and agencies from international and local, the general public and analysis of past policies documents and research reports. From these inputs, two aspirations were established - firstly, those for the education system as a whole, and secondly, those for individual students. These two aspirations set the stage for transformation of the Malaysian education system. The Blueprint suggested 11 shifts that will need to occur to achieve the envisioned education’s goals. Each shift addresses at least one of the five system outcomes of access, quality, equity, unity and efficiency, with quality as the common underlying focus across all shifts because this dimension requires the most urgent attention. Each shift comes with the underlying initiatives. As such, prioritization of initiatives is crucial to avoid overtaxed and execution fatigue and transformation is sequenced to occur in three waves. To ensure successful transformation as envisioned in the Blueprint, the Ministry has identified and committed to four differentiated actions in delivering the roadmap
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 710
The development of scientific research in the university as well as the development of research university models is increasingly attracting the attention of many scholars as well as scientific and educational policy makers of many countries around the world, including developing countries. Developing scientific research in the university as well as building the research university model is quite expensive and requires a developed national institutional environment to a certain extent. However, the development of scientific research in universities in general and research universities in particular has a particularly important mission in national sustainable development and requires countries, including developing countries and every university needs to have appropriate solutions and steps. This paper contributes to the clarification of the role and the application of theories to explain the role of university’s scientific research.

