Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 672
Information Technology (IT) human resource development has been put on the top agenda for all countries’ development in the fourth industrial revolution.In this movement, Vietnam also has to deal with a huge gap between the demand and supply of high-quality IT human resources. The paper puts forward five major solutions for the inadequate IT human resources in Vietnam including (i) developing an optimum strategy for high-quality IT human resources; (ii) enhancing the cooperation and networking among different partiesincluding Government, training institutions, businesses; (iii) updating and diversifying the training programs; (iv) regenerating the good model/practice of connecting business - university - technology providers in integrated efforts of IT human resource development; (v) developing an information connecting portal.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 606
The growth of information technology is changing the way of teaching and learning in higher education. E-learning system is a part of this change, which help students and instructions interact become easier. Learning management system (LMS) becomes more innovative and useful for learning activities regarding time and location. This paper examine the mediating role of perceived usefulness and self-efficacy on student satisfaction of LMS. We adopted the extended information system (IS) success model with perceived usefulness and self-efficacy as mediator. The model was tested with 220 students in University of Economics Ho Chi Minh City who use a LMS for most of the course they took. Partial least squares (PLS) technique is employed to test the possible mediating effects. The PLS analysis results revealed that Perceived usefulness fully mediate the relationship between service quality to learner satisfaction of LMS. Furthermore, research found that Perceived usefulness play as partially mediator which mediate the relationship between information quality and system quality with learner satisfaction
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,338
Phát triển giáo dục được coi là một trong những yếu tố then chốt quyết định thành công của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch vụ giáo dục Việt Nam đạt được những bước phát triển lớn kể từ sau đổi mới, sự chênh lệch giữa phát triển dịch vụ giáo dục khu vực nông thôn và thành thị ngày một rõ ràng. Để làm rõ vấn đề này, tác giả đánh giá thực trạng trong phát triển dịch vụ giáo dục khu vực nông thôn trên cả hai khía cạnh cung cấp dịch vụ và tiếp cận dịch vụ, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hơn nữa dịch vụ này tại khu vực nông thôn.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 916
Sáng tạo không phải là cái gì đó tự đến, tự có sẵn trong mỗi con người. Sự sáng tạo cần được nuôi dưỡng và phát triển trong một quá trình lâu dài. Bài viết giới thiệu và phân tích khái niệm dạy học sáng tạo, đặc trưng của nó và sự ứng dụng của dạy học sáng tạo vào kĩ năng nói tiếng Anh. Bài viết cũng nêu ra một số khó khăn mà giáo viên và học sinh có thể gặp phải trong quá trình dạy học sáng tạo. Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực và tâm huyết của giáo viên cùng với một số thay đổi tích cực trong nền giáo dục nước nhà, dạy học sáng tạo nên là một phần không thể thiếu trong quá trình dạy học của giáo viên và học sinh.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,244
Các vấn nạn liên quan đến giới tính và sức khỏe sinh sản ở trẻ em ngày càng gia tăng ở Việt Nam, đòi hỏi hệ thống giáo dục cần xây dựng một chương trình giáo dục giới tính phù hợp. Các nghiên cứu về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản hiện hành thường tập trung vào người dạy là giáo viên. Trong khi đó, việc tìm hiểu nhu cầu về kiến thức và các kĩ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản ở người học có vai trò then chốt. Khảo sát này được thực hiện trên tổng số 876 học sinh thuộc lứa tuổi 9 - 14 tuổi ở 4 điểm trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc quận Ninh Kiều của thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy, nhóm học sinh nữ có nhu cầu tìm hiểu về kiến thức, rèn luyện về các kĩ năng nhiều hơn và sớm 1 - 2 năm so với nam học sinh. Vấn đề rèn luyện các kĩ năng được các em học sinh quan tâm nhiều so với các nội dung về lí thuyết. Kết quả khảo sát cung cấp một kênh thông tin quan trọng để làm cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng và phát triển nội dung giáo dục giới tính và kĩ năng sống cho các em học sinh ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,467
Văn bản thông tin là phần văn bản khá mới mẻ trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn. Để chuẩn bị cho năm học 2020 - 2021, có 5 bộ sách giáo khoa lớp 1 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Mặc dù mỗi bộ sách có quan điểm biên soạn, cách tiếp cận, cấu trúc và bản sắc riêng nhưng nội dung các văn bản thông tin trong sách giáo khoa Tiếng Việt đều giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 775
Trong bài báo này, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên (GV) trung học cơ sở (THCS) nhằm nâng chuẩn trình độ đào tạo, đáp ứng tính chuyên nghiệp của nghề dạy học được khảo sát, đánh giá theo tiếp cận quản lí (QL) nguồn nhân lực trong quản lí nhà nước (QLNN) về nhà giáo. Nghiên cứu tác động của yêu cầu đổi mới giáo dục đến tính chuyên nghiệp của GV THCS, những yêu cầu cấp thiết đối với GV THCS được cơ sở tuyển dụng quan tâm, những khó khăn mà GV THCS gặp phải trong bối cảnh đổi mới và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV THCS nhằm nâng chuẩn trình độ đào tạo cho thấy cần phải hoàn thiện khung chính sách QLNN về nhà giáo và nghề dạy học nhằm phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển giáo dục (GD)
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,879
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là việc làm thường xuyên và liên tục trong quá trình dạy học.Trong bối cảnh của Chương trình Giáo dục phổ thông đang được thiết kế lại, việc chuyển hướng dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học định hướng năng lực đã được ban soạn thảo chương trình đề xuất và Quốc hội thông qua thì việc nghiên cứu thay đổi cách đánh giá kết quả được xem là việc làm mang tính cấp thiết và tất yếu. Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích một số đặc điểm của từng cách tiếp cận dạy học, tác giả bài báo đề xuất một biện pháp đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếp cận phẩm chất, năng lực của học sinh dựa trên một nghiên cứu cho trường hợp dạy học môn Tin học ở trường trung học phổ thông.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,038
Học tập nâng cao trình độ đại học theo hình thức liên thông, vừa làm vừa học là phù hợp xu thế phát triển giáo dục hiện nay. Việc người học được học mọi lúc mọi nơi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn là một trong những chủ trương của Đảng và ngành Giáo dục đưa ra là tạo cho mọi người trong xã hội được “học suốt đời”, “học mọi lúc, mọi nơi”, là thực hiện đúng nội dung của Luật Giáo dục sửa đổi có hiệu lực từ năm 2020. Đây cũng là nhiệm vụ nhằm cụ thể hóa nội dung Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo, đồng thời đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức ở các địa phương sau khi thực hiện đề án sáp nhập chính quyền phường, xã, thị trấn. Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị là cơ sở giáo dục, đào tạo giáo viên bậc Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở, đồng thời thực hiện nhiệm vụ liên kết với các trường đại học đào tạo trình độ đại học cho đội ngũ giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và cán bộ, viên chức địa phương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ liên kết đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học gặp nhiều khó khăn, số lượng lớp và học viên ngày càng giảm. Vì vậy, cần phải có giải pháp hợp lí để nâng cao hiệu quả công tác liên kết đào tạo trình độ đại học cho đội ngũ cán bộ, viên chức đang công tác trong các cơ sở giáo dục và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,031
Bài viết trình bày việc sử dụng logic mờ để dự đoán kết quả thi của sinh viên nhằm giúp giảng viên đứng lớp có cơ sở đưa ra những tác động sư phạm phù hợp để nâng cao chất lượng dạy và học. Mô hình đánh giá nhận hai biến đầu vào là điểm kiểm tra giữa kì và số buổi sinh viên nghỉ học sau nửa thời gian học tập. Các biến được mờ hóa thành ba mức để đưa vào mô hình suy diễn với chỉ sáu luật suy diễn. Điểm thi khi tính toán bằng mô hình được so sánh với điểm thi thực tế để đánh giá độ chính xác của mô hình. Với dữ liệu 86 sinh viên học môn Toán rời rạc tại Trường Đại học FPT Thành phố Hồ Chí Minh, mô hình cho độ chính xác 79.9% tương đồng với các nghiên cứu trước sử dụng nhiều biến và nhiều luật hơn.