Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,503
Trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Mỗi quốc gia đều nghiên cứu về giải pháp ứng phó trước mắt và lâu dài. Một trong những giải pháp được nhiều nước trên thế giới áp dụng là đưa giáo dục biến đổi khí hậu vào hệ thống trường học. Ở Việt Nam, từ năm học 2011-2012, các nhà trường đã thực hiện giáo dục biến đổi khí hậu cho học sinh theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để đáp ứng nhu cầu quản lí hoạt động trên hiệu quả rất cần những biện pháp quản lí phù hợp với loại hình trường, đặc điểm học sinh theo vùng miền. Biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến gia tăng thiên tai. Vì vậy, cần đồng thời giáo dục cho học sinh kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai. Đó là lí do tác giả đã nghiên cứu về quản lí hoạt động này, số liệu khảo sát thực trạng cho thấy trong các hình thức giáo dục, học sinh hứng thú nhất với hình thức giáo dục thông qua câu lạc bộ. Trong phạm vi bài viết, tác giả trình bày một số điểm chính về nghiên cứu này.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,182
Công tác giáo dục và đào tạo Phật giáo là một trong những trọng điểm phát triển giáo dục bền vững đi đôi với giữ gìn và phát triển truyền thống Phật giáo của Việt Nam. Bài viết phân tích các giai đoạn quản lí đào tạo ở trường Trung cấp Phật học theo chu trình PDCA: Quản lí đầu vào; Quản lí quá trình; Quản lí đầu ra; Quản lí điều tiết bối cảnh thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết. Kết quả nghiên cứu lí luận này có khả năng vận dụng để thực thi trong quá trình quản lí đào tạo tại các trường trung cấp Phật học tại Việt Nam. Ngoài ra, việc đề xuất một khung lí luận để xây dựng mô hình nghiên cứu cũng như các chỉ báo về quản lí đào tạo công tác giáo dục và đào tạo Phật giáo tại các trường trung cấp Phật học, góp phần định hình các nghiên cứu tiếp nối và mở rộng sự hiểu biết về lĩnh vực giáo dục đặc thù này tại Việt Nam.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,197
Trong một thế giới số hóa và phát triển, thuật ngữ “Metaverse” ngày càng trở nên phổ biến hơn trong cuộc sống cũng như trong giáo dục. Metaverse là sản phẩm thực tế ảo, giúp nâng cao sự tương tác của con người giữa thế giới hữu hình và kĩ thuật số. Bài viết phân tích thực trạng khi ứng dụng Metaverse trong các cơ sở giáo dục đại học thông qua khảo sát 684 cán bộ quản lí, giảng viên, chuyên viên, kĩ sư và sinh viên tại 10 trường đại học thông qua phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi được thiết kế dưới dạng Google Form. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mẫu khảo sát ngẫu nhiên, đa dạng và mang lại tính đại diện cho nhiều ngành nghề, lĩnh vực thuộc khoa học xã hội, khoa học tự nhiên hay máy tính và công nghệ thông tin… Thông qua nghiên cứu, bài viết đưa ra nhận định về mức độ quen thuộc với khái niệm Metaverse, tỉ lệ người dùng ứng dụng Metaverse chia theo đối tượng khảo sát, mức độ tích hợp Metavese vào chương trình đào tạo cũng như lợi ích và thách thức trong khi ứng dụng Metaverse tại các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta hiện nay.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 962
Bài viết nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của mỗi người, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục. Đây là chuẩn mực gắn với công việc hằng ngày của mỗi người, hướng dẫn chặt chẽ về cách sống và làm việc đúng đắn. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” cho đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị lí luận và thực tiễn. Bài viết nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Cần Thơ đã triển khai và áp dụng tư tưởng đạo đức chuẩn mực “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” trong quá trình giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng các chuẩn mực này trong thời gian tới tại Đảng bộ Thành phố Cần Thơ.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 987
Xây dựng văn hóa chất lượng trường trung học cơ sở thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở là một giải pháp quản lí chất lượng nhằm đưa ra những kết quả tin cậy cách kiểm soát các điều kiện, quá trình tổ chức giáo dục của nhà trường. Hoạt động này gắn bó chặt chẽ với xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường trung học cơ sở, cụ thể là: Xác định và thực hiện tiêu chuẩn chất lượng; Thiết lập quy trình kiểm định chất lượng; Giáo dục về chất lượng; Tạo điều kiện cho phản hồi và cải tiến; Tạo cơ hội học tập tích cực; Thúc đẩy tinh thần tự trách nhiệm và tôn trọng; Khuyến khích sự hợp tác và giao lưu; Xây dựng văn hóa đánh giá công bằng; Tôn trọng và khích lệ; Tôn trọng và tôn vinh thành tựu. Khảo sát 305 người ở một số trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, ngoài những kết quả đạt được, hoạt động xây dựng văn hóa chất lượng và hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở còn bộc lộ một số hạn chế như: Nhận thức chưa đúng đắn của các lực lượng giáo dục; Công tác lập kế hoạch, kiểm tra đánh giá còn nặng về hình thức, các phương pháp thực hiện hoạt động xây dựng văn hóa chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục chưa đồng bộ. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa chất lượng trường trung học cơ sở thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,300
Để xây dựng khung cơ sở lí thuyết cho việc đề xuất khung đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam, nghiên cứu này tiến hành đánh giá nhanh các tài liệu tìm kiếm các nghiên cứu phù hợp cho việc so sánh, phân tích, tổng số có hơn hơn 96 nghiên cứu được tìm thấy. Sau khi loại bỏ các nghiên cứu không phù hợp, 8 nghiên cứu với 5 khung lí thuyết về đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững được sử dụng và phân tích. Trên cơ sở phân tích, so sánh và đánh giá các khung đánh giá chính sách phát triển bền vững, giáo dục vì sự phát triển bền vững, chính sách môi trường và phát triển bền vững trên thế giới, nhóm tác giả đề xuất khung lí thuyết về đánh giá chính sách giáo dục vì sự phát triển bền vững làm định hướng cho các nghiên cứu lí thuyết về lĩnh vực này trong tương lai.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,116
Trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều khó khăn trong mọi lĩnh vực phát triển, đặc biệt là các kĩ năng xã hội. Hạn chế trong giao tiếp tương tác xã hội, hành vi định hình dập khuôn lặp lại là những đặc điểm khiến trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều cản trở trong quá trình tiếp nhận và thực hành các kĩ năng xã hội trong cuộc sống. Bởi vậy, bên cạnh việc nhận diện và can thiệp sớm thì việc sử dụng câu chuyện xã hội để hỗ trợ cho quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ là rất quan trọng. Bài báo tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng câu chuyện xã hội trên mẫu khách thể là 60 giáo viên can thiệp tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số giáo viên đã nhận thức khá đầy đủ về các khái niệm và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng xã hội thông qua câu chuyện xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Điều này thể hiện qua việc giáo viên đã áp dụng các phương pháp khác nhau, tần suất sử dụng câu chuyện xã hội cũng như những đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn của giáo viên trong quá trình giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ tự kỉ 5 - 6 tuổi. Tuy nhiên, việc sử dụng câu chuyện xã hội chưa được hiệu quả, đồng đều và liên tục trong quá trình giáo dục các kĩ năng xã hội. Từ kết quả nghiên cứu thực trạng đã định hướng việc có những nghiên cứu sâu, cụ thể hơn về vấn đề này.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 893
Hội chứng tự kỉ (ASD) là rối loạn phát triển não bộ ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp xã hội và hành vi. Tỉ lệ mắc ASD đang tăng đáng kể trên thế giới. Ở Việt Nam, việc tiếp cận các dịch vụ can thiệp cho trẻ tự kỉ còn hạn chế. Với đào tạo thích hợp, phụ huynh có thể hỗ trợ sự phát triển của con. Nghiên cứu này đánh giá tác động của các chương trình đào tạo phụ huynh đối đến sự tiến bộ của trẻ mắc hội chứng tự kỉ. Khảo sát được thực hiện với 178 phụ huynh và 247 giáo viên ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, trẻ có phụ huynh được đào tạo có tiến bộ hơn đáng kể về kĩ năng xã hội, giao tiếp, tự quản lí và học tập. Phụ huynh được đào tạo cũng báo cáo sự tăng tự tin về khả năng tự dạy con và hiểu biết về tự kỉ. Giáo viên quan sát sự tiến bộ ở nhóm trẻ có phụ huynh được đào tạo. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh vẫn chưa tiếp cận được đào tạo có hệ thống. Chương trình Parenting Partner Program được đề xuất nhằm giải quyết vấn đề trên, cung cấp phụ huynh những thông tin chuẩn xác, dạy phụ huynh về các kĩ thuật dựa trên ABA để hỗ trợ trẻ và tạo ra một mạng lưới kết nối giữa phụ huynh và với nhà chuyên môn.
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 967
Rối loạn ngôn ngữ phát triển (Developmental Language Disorder) (Bishop và cộng sự, 2017), là thuật ngữ xuất hiện trong các nghiên cứu trên thế giới để chỉ những trẻ có khả năng giao tiếp hạn chế, vốn từ vựng nghèo nàn, các câu nói ít đa dạng và không đủ thành phần. Khó khăn về ngôn ngữ của trẻ rối loạn ngôn ngữ phát triển thường gây hậu quả nặng nề ở lứa tuổi mầm non và đầu tiểu học. Thực tiễn về sự ảnh hưởng lâu dài của rối loạn ngôn ngữ phát triển cho thấy tầm quan trọng về can thiệp ngôn ngữ trong quá trình phát triển của trẻ không chỉ là những định hướng ngắn hạn mà cần có những mục tiêu dài hạn để kịp thời nhìn nhận và có những ưu tiên trong từng giai đoạn. Trong 26 bài báo, chúng tôi đã tìm kiếm được 14 tài liệu phù hợp tiêu chí. Kết quả phân tích cho thấy, có 4 nhóm can thiệp rối loạn ngôn ngữ phát triển bao gồm: Can thiệp từ vựng, ngữ pháp, lời kể và âm vị. Các can thiệp này không thể thiếu trong các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ. Chúng được lồng ghép hài hòa trong quá trình can thiệp
Số: /2024
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,041
Giáo dục hòa nhập đã được đưa thành các Mục tiêu phát triển bền vững tại Hội nghị thưởng đỉnh phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Người khuyết tật có quyền được tiếp cận một nền giáo dục bình đẳng, có chất lượng và cơ hội học tập suốt đời. Ở Việt Nam, giáo dục hòa nhập không còn là khái niệm mới và nó cũng đã được chấp nhận như một sự phát triển tất yếu. Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam đã được hình thành dựa trên các nguyên tắc chung của quốc tế có điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Bài viết phân tích tác động cũng như những khoảng cách giữa chính sách giáo dục hòa nhập với thực tiễn, từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với các cấp, ngành có liên quan nhằm tạo ra một môi trường chính sách thúc đẩy giáo dục hòa nhập.

