Bạn đang ở đây
Bài viết khoa học
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,413
Giáo bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là một nội dung cần thiết. Điều đó đã được quy định trong Chương trình Giáo dục Mầm non đồng thời được khẳng định trong nhiều các văn bản pháp luật khác. Mục đích cuối cùng của giáo dục bảo vệ môi trường là làm cho trẻ có được kiến thức, kĩ năng và đặc biệt các hành vi bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi. Học qua trải nghiệm là một lí thuyết học tập quan trọng, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm của kinh nghiệm trong quá trình học tập. Đối với trẻ mầm non, “học” qua trải nghiệm là một trong những cách thức giáo dục có ưu thế trong việc giúp trẻ tự trải nghiệm và “học“ được từ cuộc sống xung quanh. Bằng phương pháp hồi cứu các nghiên cứu có liên quan, bài báo này tập trung vào đề xuất cách vận dụng mô hình mô hình học tập qua trải nghiệm của David A.Kold vào giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non. 4 bước trong quy trình học trải nghiệm đã được phân tích và chỉ dẫn cách vận dụng cụ thể. Tác giả bài báo đề xuất nguyên tắc khi vận dụng mô hình, mặc dù tính linh hoạt được chú ý tuy nhiên cốt lõi nhất là phải đảm bảo trẻ được trải nghiệm, “thử và sai” dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên mầm non để trẻ tự xây dựng hiểu biết và hành vi của bản thân. Kết quả của nghiên cứu này tiếp tục góp phần mở ra hướng vận dụng linh hoạt mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để giáo dục các nội dung khác cho trẻ em mầm non.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,161
Trong xu hướng dạy và học tích cực ngày nay, giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, định hướng, tổ chức để học sinh chủ động tích cực tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức. Để thực hiện tốt vai trò tổ chức của mình, giáo viên phải thường xuyên thiết kế những tình huống dạy học để dẫn dắt học sinh huy động kiến thức có sẵn, biến đổi đối tượng cần nghiên cứu sang đối tượng mới để có thể sử dụng vốn tri thức đã có giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách hiệu quả. Thực chất chính là việc học sinh thực hiện liên tiếp các hoạt động nhận thức gắn liền với quá trình thích nghi trong việc hình thành sơ đồ nhận thức mới. Bài báo nghiên cứu những biểu hiện của thích nghi trí tuệ qua cách tiếp cận các tình huống dạy học tích cực trong dạy học Toán.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,816
Bài viết đã đưa ra quan niệm về mô hình dạy học kết hợp trên cơ sở nghiên cứu quan niệm mô hình dạy học ở trong nước và trên thế giới. Đồng thời, tác giả tìm hiểu và phân tích một số mô hình dạy học kết hợp phổ biến trên thế giới. Từ đó, bài viết đưa ra một số đề xuất để vận dụng mô hình dạy học kết hợp vào điều kiện thực tiễn của nhà trường tiểu học ở Việt Nam nhằm đáp ứng bối cảnh, đổi mới cách dạy cách học, đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,558
Phát triển nghề nghiệp là yêu cầu tất yếu và bắt buộc đối với hầu hết các ngành nghề trong xã hội, đặc biệt là với lĩnh vực giáo dục. Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông trong thời gian qua đã có những đóng góp đáng kể trong việc nâng cao năng lực nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng cho thấy sử dụng hình thức nào trong bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông sẽ tùy thuộc vào các điều kiện như: Cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, kĩ năng tự học của giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông, nền tảng công nghệ thông tin, nguồn lực hỗ trợ học tập tại nhà trường phổ thông và địa phương… Bài viết phân tích mô hình bồi dưỡng kết hợp (blended course) có nhiều ưu điểm so với bồi dưỡng trực tiếp và bồi dưỡng trực tuyến thuần túy. Mô hình bồi dưỡng kết hợp là hình thức bồi dưỡng có sự đan xen giữa giai đoạn người được bồi dưỡng (là giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông) tự học qua mạng với giai đoạn người được bồi dưỡng được tương tác trực tiếp, đa chiều với báo cáo viên (giảng viên, chuyên gia...) và người cùng được bồi dưỡng.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,035
Chương trình tín dụng cho sinh viên là một hình thức chia sẻ chi phí trong giáo dục đại học đã và đang được áp dụng rất phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở hầu hết các quốc gia, chương trình do nhà nước quản lí luôn chiếm vị trí chủ đạo. Do vậy, vai trò quản lí của nhà nước đối với chính sách tài chính này là vô cùng quan trọng. Trong hệ thống quản lí đó, ngành Giáo dục được minh chứng là có đóng góp lớn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong hệ thống quản lí chương trình tín dụng cho sinh viên của Nhà nước, vai trò của ngành Giáo dục chưa được phát huy nhiều. Vì vậy, việc tìm hiểu những kết quả nghiên cứu, những kinh nghiệm quản lí chương trình của các quốc gia khác, trong đó đánh giá vai trò của quản lí giáo dục là cần thiết để đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam. Nghiên cứu này làm sáng tỏ một số vấn đề về nội dung quản lí chương trình tín dụng cho sinh viên được triển khai tại Thái Lan - quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, tổ chức được chương trình tín dụng cho sinh viên của nhà nước sớm hơn Việt Nam gần 10 năm, từ đó so sánh với mô hình quản lí chương trình tại Việt Nam và rút ra bài học cho Việt Nam về phát huy vai trò của ngành Giáo dục trong hệ thống quản lí chương trình.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,214
Giáo dục nghệ thuật là một nội dung giáo dục quan trọng trong trường trung học phổ thông, nhằm hình thành, phát triển năng lực thẩm mĩ và phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật cho học sinh. Từ đó, bài viết làm rõ ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục nghệ thuật cho học sinh.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,107
Bài viết nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng liên kết giữa sự phát triển kinh tế thị trường với hiệu suất giáo dục đại học tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2016. Chỉ số Färe-Primont (FP) phân tách hiệu suất giáo dục đại học tại Việt Nam thành các chỉ số cấu phần. Kết hợp với dữ liệu niên giám thống kê, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các chỉ tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam (Ví dụ: tổng sản phẩm, phát triển doanh nghiệp tư nhân, chỉ số phát triển công nghiệp, dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) không cải thiện song song với hiệu suất giáo dục đại học. Điều này hàm ý một sự phát triển thiếu đồng bộ trong hai trụ cột kinh tế và giáo dục đại học tại Việt Nam. Do đó, trong giai đoạn tới, xây dựng và phát triển một cách hiệu quả các cơ chế kết nối giữa trường đại học với thị trường (lao động), đồng thời việc xây dựng dự án chia sẻ thông tin giáo dục đồng bộ là nhiệm vụ tối quan trọng trong hoạch định chính sách.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,680
Mối tương quan giữa môn học STEM với định hướng nghề nghiệp của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa được xác định bằng phép phân tích tương quan đa biến (CCA). Kết quả cho thấy, môn học STEM có mối tương quan chặt chẽ và chi phối định hướng nghề nghiệp của học sinh trung học cơ sở tại Nha Trang, Khánh Hòa. Vì vậy, đối với học sinh trung học cơ sở ở thành phố Nha Trang, nhà trường nên thiết kế các chủ đề giáo dục STEM và tổ chức cho học sinh trải nghiệm sáng tạo STEM theo định hướng nghề nghiệp kết hợp với sở thích môn học STEM nhằm kích thích tính hưng phấn, khơi dậy tiềm năng, sở trường của học sinh. Kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn cho việc thiết kế các chủ đề giáo dục STEM phù hợp với định hướng nghề nghiệp của học sinh trung học cơ sở tại Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,325
Thế giới đang chứng kiến những thay đổi nhanh chóng. Thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - công nghiệp 4.0 đòi hỏi việc chuẩn bị tốt hơn những năng lực cần thiết cho học sinh. Việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng, cần một cách tinh tế hơn trang bị cho người học những kĩ năng và trải nghiệm vượt ra ngoài giới hạn thông thường của việc học một ngôn ngữ. Bài viết giới thiệu khái quát một số năng lực cuộc sống (tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác, học cách học, trách nhiệm xã hội) đồng thời đưa ra một số gợi ý và lưu ý khi tích hợp chúng trong các lớp học ngoại ngữ để phần nào hỗ trợ giáo viên trong lĩnh vực đầy thách thức này.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 3,552
Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, hầu hết các tỉnh, thành ở Việt Nam đều phải tổ chức dạy học trực tuyến cho học sinh phổ thông với quy mô và mức độ khác nhau. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tình tình học tập trực tuyến của học sinh Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập. 341.830 học sinh phổ thông ở các cấp học, vùng miền tại 63 tỉnh/thành phố đã tham gia trả lời phiếu hỏi liên quan đến những trải nghiệm học tập trực tuyến, bao gồm điều kiện, các hoạt động, hiệu quả học tập cũng như những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình học. Dữ liệu được xử lí, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS V26. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, học sinh Việt Nam có điều kiện cơ bản đảm bảo học tập, hiệu quả học tập trực tuyến được học sinh đánh giá tích cực. Tuy nhiên, khoảng cách vùng miền với những khó khăn về thiết bị học trực tuyến, đường truyền internet và sức khoẻ, tâm lí là điều cần phải đặc biệt chú ý cải thiện để đảm bảo công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục.
- « Đầu tiên
- ‹ trước
- …
- 99
- 100
- 101
- 102
- …
- tiếp ›
- Cuối cùng »

