Bạn đang ở đây
Bài viết khoa học
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,256
Nói lắp tồn tại như một “tảng băng” trong một cá nhân, mà “phần nổi” chỉ biểu hiện ở sự lặp lại, kéo dài hay tắc nghẽn khi phát âm, còn “phần chìm” là phần khó nhận diện nhưng lại chiếm phần lớn và đóng vai trò rất quan trọng. Làm thế nào để khắc phục khó khăn này ở cả ‘phần nổi’ lẫn “phần chìm” là điều mà các nhà nghiên cứu và các nhà can thiệp/ trị liệu đang quan tâm. Có nhiều biện pháp áp dụng trong can thiệp cho trẻ nói lắp, trong đó cần kể đến một trong các biện pháp tác động tới hành vi, tâm lí của trẻ đó là sử dụng âm nhạc. Bài viết giới thiệu biện pháp sử dụng âm nhạc trong trị liệu cho trẻ nói lắp và trình bày một số kết quả thực chứng về tác động của biện pháp này trong can thiệp nói lắp cho một trẻ nhỏ.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,678
Bài viết trình bày quan điểm và cơ sở cho việc đánh giá kết quả giáo dục học sinh khuyết tật, mô hình giáo dục 4.0 và những yêu cầu đối với đánh giá kết quả giáo dục học sinh khuyết tật. Từ đó, đưa ra những gợi ý cho việc đánh giá kết quả giáo dục học sinh khuyết tật hướng tới đảm bảo chất lượng giáo dục học sinh khuyết tật trong bối cảnh giáo dục 4.0.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,955
Kĩ năng tính toán cơ bản như cộng, trừ, nhân, chia là những kĩ năng cốt lõi và quan trọng trong chương trình toán tiểu học. Khi tham gia học tập môn Toán, học sinh khuyết tật trí tuệ gặp nhiều khó khăn trong việc lĩnh hội và áp dụng những kĩ năng tính toán cơ bản này. Nghiên cứu dưới đây đã xem xét hiệu quả của việc sử dụng hướng dẫn theo quy trình cụ thể - biểu tượng - trừu tượng (CRA) đối với việc nâng cao kĩ năng tính toán cơ bản cho học sinh khuyết tật trí tuệ hoà nhập. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể đối với nhóm học sinh thực nghiệm - những cá nhân có cơ hội tiếp xúc với các bài tập thao tác và các bài tập dạng trực quan. Bên cạnh đó, thời gian luyện tập, thực hành được coi là yếu tố dự báo quan trọng đối với hiệu quả thực hiện tính toán của học sinh. Những kết quả này giúp thay đổi cách hỗ trợ học sinh khuyết tật trí tuệ học tính toán trong bối cảnh hòa nhập tiểu học.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,397
Bài viết phân loại công nghệ hỗ trợ cho trẻ khiếm thị thành bảy nhóm dựa vào hoạt động ở trường học, bao gồm công nghệ hỗ trợ cho việc đọc, viết, toán, khoa học, di chuyển, vui chơi giải trí và cuộc sống hàng ngày. Các lưu ý khi lựa chọn và sử dụng công nghệ hỗ trợ cho trẻ khiếm thị liên quan đến khả năng, nhu cầu của trẻ, sự phối hợp đa ngành và sự đánh giá liên tục quá trình sử dụng công nghệ hỗ trợ. Bài viết cũng tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ hỗ trợ của 30 trẻ khiếm thị học Tiểu học tại Hà Nội. Kết quả khảo sát chỉ ra tỉ lệ trẻ khiếm thị được tiếp cận và sử dụng công nghệ rất thấp, đặc biệt là sử dụng các công nghệ hỗ trợ cao. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra các khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ hỗ trợ trong giáo dục cho học sinh khiếm thị bao gồm xây dựng danh sách các công nghệ hỗ trợ tối thiểu trong các trường học, trung tâm; đưa mục tiêu sử dụng công nghệ hỗ trợ vào kế hoạch giáo dục cá nhân; tăng cường số lượng các công nghệ hỗ trợ; chuẩn bị cho giáo viên về nhận thức, kĩ năng sử dụng công nghệ hỗ trợ cũng như phối hợp các ngành Y tế, Giáo dục trong chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng có sử dụng công nghệ hỗ trợ
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,194
Bài viết trình bày một số biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho trẻ rối loạn phát triển tại Hà Nội, bao gồm: 1) Xây dựng hành lang pháp lí về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phát triển, 2) Lồng ghép giáo dục hướng nghiệp vào chương trình giáo dục cho học sinh rối loạn phát triển, 3) Phối hợp với các cơ sở dạy nghề và liên kết với các đơn vị sử dụng lao động thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phát triển, 4) Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phát triển dựa vào gia đình, 5) Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phát triển dựa vào cộng đồng. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để những người làm công tác giáo dục cho học sinh rối loạn phát triển có thể tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phát triển, giúp học sinh rối loạn phát triển có cơ hội được tham gia vào thế giới nghề nghiệp và thị trường lao động, có thể sống độc lập và hoà nhập cộng đồng.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,037
Nghiên cứu phân tích, đánh giá sự thay đổi trong nhận thức, kiến thức và kĩ năng dạy học, hỗ trợ học sinh khiếm thính của giáo viên tại một số trường chuyên biệt và trường hòa nhập sau khi tham gia tập huấn chuyên môn online kết hợp offline.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,046
Phản hồi thần kinh - Neurofeedback là một phương pháp sử dụng trí tuệ nhân tạo - AI, tác động lên sóng não để điều hòa hoạt động của thần kinh trung ương. Đây được coi là một trong những phương pháp đầy hứa hẹn mở ra con đường mới trong việc nghiên cứu các vấn đề rối loạn phát triển ở trẻ em như: Tăng động giảm chú ý - ADHD, giảm chú ý - ADD, Tự kỉ - ASD, khuyết tật trí tuệ - ID, khuyết tật học tập - LD, động kinh và các vấn đề rối loạn với tâm thần kinh. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra hiệu quả của đánh giá, can thiệp dựa trên chứng cứ, hình ảnh bằng điện não đồ (EEG). “Neuro Feedback - Lịch sử hình thành và phát triển” minh chứng sự ra đời và việc sử dụng hiệu quả phương pháp Phản hồi thần kinh - Neurofeedback trong đánh giá, can thiệp rối loạn phát triển trên thế giới và ở Việt Nam.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,791
Bài viết được thực hiện dựa trên nghiên cứu một trường hợp học sinh khuyết tật trí tuệ về giáo dục hành vi thích ứng theo tiếp cận bản đồ hành vi xã hội. Kết quả cho thấy, sử dụng các mẫu bản đồ hành vi xã hội phù hợp đã tác động trực tiếp đến kết quả 06 nhóm hành vi thích ứng sau thực nghiệm đều đạt mức độ trung bình đến mức tốt. Hai lĩnh vực hành vi thích ứng có sự cải thiện tốt nhất là thích ứng với lĩnh vực tuân lệnh (thực hiện nội quy, quy định của lớp học) và thích ứng với lĩnh vực xã hội hóa. Bốn lĩnh vực: Tự điều khiển; ứng xử xã hội; hành vi rập khuôn, quá hiếu động; hành vi quấy rối liên cá nhân sau thực nghiệm đều đạt mức độ khá. Điều đó cho thấy, việc vận dụng bản đồ hành vi xã hội trong giáo dục hành vi thích ứng cho học sinh khuyết tật trí tuệ hoàn toàn có cơ sở và có tính khả thi để triển khai rộng rãi trên đối tượng học sinh khuyết tật trí tuệ cấp Tiểu học.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,500
Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển chương trình tiền học đường cho trẻ khuyết tật nhìn chuẩn bị vào lớp 1 tại một số trường hòa nhập và chuyên biệt của một số tỉnh/thành. Các phát hiện chính liên quan đến: 1) Kĩ năng tiền học đường của trẻ khuyết tật nhìn hiện nay bao gồm các nhóm kĩ năng: Kĩ năng tiền đọc - tiền viết - tiền tính toán; Kĩ năng giao tiếp và tương tác xã hội; Kĩ năng lao động tự phục vụ; Kĩ năng định hướng di chuyển; Kĩ năng sử dụng đa giác quan; Kĩ năng sử dụng thiết bị hỗ trợ; 2) Thực trạng phát triển chương trình tiền học đường với các vấn đề: Căn cứ phát triển chương trình, nội dung chương trình, triển khai, đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng. Các nội dung trên được khảo sát thông qua việc sử dụng phiếu đánh giá kĩ năng tiền học đường dành cho trẻ và phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lí, giáo viên. Đánh giá thực trạng chỉ ra rằng chương trình tiền học đường đã đang thực hiện nhưng chưa có một định hướng chung, các trường xây dựng chương trình một cách tự phát dựa trên chương trình mầm non hoặc chương trình tiểu học do đó, việc cần thiết phải phát triển một khung chương trình tiền học đường để giáo viên có định hướng phát triển chương trình nhà trường và xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân phù hợp giúp trẻ chuẩn bị vào lớp một hiệu quả.
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,664
Giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học đối với trẻ rối loạn phổ tự kỉ là rất quan trọng nhưng hiện nay tại Việt Nam các nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung với 09 nhà chuyên môn và quản lí, phỏng vấn sâu 03 phụ huynh và 03 giáo viên đang phụ trách các lớp tiền tiểu học tại Hà Nội, nghiên cứu này tìm hiểu quan điểm của giáo viên và phụ huynh về vấn đề chuyển tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ từ mầm non lên tiểu học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 04 chủ đề được xác định, đó là: 1) Mức độ phổ biến của trẻ rối loạn phổ tự kỉ; 2) Các dịch vụ và chất lượng của dịch vụ hiện có; 3) Những khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp; 4) Mong muốn của giáo viên và phụ huynh khi thực hiện chuyển tiếp trẻ từ mầm non lên tiểu học. Từ đó, đề xuất những khuyến nghị để giai đoạn chuyển tiếp của trẻ rối loạn phổ tự kỉ được thực hiện có hiệu quả hơn
- « Đầu tiên
- ‹ trước
- …
- 109
- 110
- 111
- 112
- …
- tiếp ›
- Cuối cùng »

