BIỆN PHÁP QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN SƯ PHẠM THEO MÔ HÌNH 3C-TDI

BIỆN PHÁP QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN SƯ PHẠM THEO MÔ HÌNH 3C-TDI

Phạm Hoàng Khánh Linh linhphk@niem.edu.vn Học viện Quản lí Giáo dục 31 Phan Đình Giót, phường Phương Liệt, Hà Nội, Việt Nam
Tóm tắt: 
Nghiên cứu nhằm đề xuất các nhóm biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên sư phạm theo mô hình 3C-TDI trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận kết hợp khảo sát thực trạng. Các tài liệu trong và ngoài nước về năng lực số, quản lí bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên sư phạm và các chính sách liên quan được phân tích, hệ thống hóa nhằm xây dựng cơ sở lí luận của mô hình 3C-TDI. Khảo sát trực tuyến được thực hiện tại chín cơ sở giáo dục đại học với 636 mẫu gồm giảng viên sư phạm và cán bộ quản lí nhằm đánh giá thực trạng quản lí bồi dưỡng năng lực số giảng viên sư phạm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hoạt động quản lí bồi dưỡng năng lực số hiện đạt mức “Khá/Đáp ứng tốt”, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế về đánh giá tác động sau bồi dưỡng, tính đồng bộ của năng lực số và việc sử dụng dữ liệu trong cải tiến quản lí. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất ba nhóm biện pháp quản lí gồm: Quản lí các điều kiện nền tảng 3C; quản lí các hoạt động TDI; liên kết phối hợp các hoạt động 3C-TDI nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên sư phạm trong các cơ sở giáo dục đại học.
Từ khóa: 
giảng viên Sư phạm
Năng lực số
năng lực số giảng viên sư phạm
mô hình 3C-TDI
quản lí bồi dưỡng.
Tham khảo: 

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025). Thông tư số 02/2025/TT BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2025 Quy định khung năng lực số cho người học.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026a). Thông tư số 18/2026/ TT-BGDĐT ngày 27 tháng 3 năm 2027 về Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026b). Thông tư số 26/2026/ TT-BGDĐT ngày 09 tháng 4 năm 2026 về Quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học.

[4] Chigbu, B. I., Ngwevu, V & Jojo, A. (2023). The effectiveness of innovative pedagogy in the Industry 4.0: Educational ecosystem perspective. Journal of Social Science and Human, 39(2).

[5] Dương Thị Kim Oanh, Đặng Thị Diệu Hiền, Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thanh Huyền & Nguyễn Văn Hiếu. (2023). Development of an online teaching competence framework for university lecturers in Vietnam. Cogent Education, 10(2), 2264034.

[6] From, J. (2017). Pedagogical digital competence: Between values, knowledge and skills. Higher Education Studies, 7(2).

[7] Hoàng Tường Sỹ, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Ngọc Long, Nguyễn Thị Thanh Huyền & Nguyễn Thị Loan. (2022). Digital competence of lecturers at the universities of education: In the context of education digital transformation in Vietnam. International Journal of Information and Education Technology, 12.

[8] Howard, S. K., Tondeur, J., van Zanten, M & Uerz, D. (2022). A framework for digital competences of lecturers. Netherlands Association of Universities of Applied Sciences & SURF. https://www. researchgate.net/publication.

[9] Kampylis, P., Punie, Y & Devine, J. (2015). Promoting effective digital-age learning: A European framework for digitally competent educational organisations (EUR 27599 EN). European Commission, Joint Research Centre. https://doi.org/10.2791/54070.

[10] Knowles, M. S. (1975). Self-directed learning: A guide for learners and teachers. Follett.

[11] Koehler, M. J., Mishra, P., Akcaoglu, M & Rosenberg, J. M. (2013). The technological pedagogical content knowledge (TPACK) framework for teachers and teacher educators. Trong ICT integrated teacher education: A resource book. https://www. researchgate.net/publication/267028784.

[12] Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development. Prentice Hall.

[13] Lê Anh Vinh, Bùi Diệu Quỳnh, Đỗ Đức Lân, Đào Thái Lai & Tạ Ngọc Trí. (2021). Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phổ thông Việt Nam. Tạp chí Khoa học Giáo dục, số đặc biệt, tháng 01 năm 2021.

[14] Nguyễn Anh Thư & Bùi Trang Hương. (2022). Một số giải pháp để phát triển năng lực số của giảng viên đại học Việt Nam. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, 38(3), pp.83–94.

[15] Nguyễn Tấn Đại & Marquet, P. (2018). Năng lực công nghệ số đáp ứng nhu cầu xã hội: Các mô hình quốc tế và hướng tiếp cận tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 244(12), tr.23-39.

[16] Purina-Bieza, K. E. (2021). Pedagogical digital competence and its acquisition in a teacher education programme. Trong Proceedings of the 79th International Scientific Conference “Human, Technology and Quality of Education”, p.1148. University of Latvia.

[17] Redecker, C. (2020). DigCompEdu: Khung năng lực số của các nhà giáo dục của Châu Âu (L. T. Nghĩa, Trans.; Y. Punie, Ed.). European Commission, Joint Research Centre (Tác phẩm gốc xuất bản năm 2017).

[18] Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 956/QĐ TTg ngày 30 tháng 5 năm 2016 phê duyệt Đề án “Phát triển các trường sư phạm nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông”.

[19] UNESCO. (2018). A global framework of reference on digital literacy skills for indicator 4.4.2 (Information Paper No. 51, Ref: UIS/2018/ICT/IP51). UNESCO Institute for Statistics.

[20] Wang, Z & Chu, Z. (2023). Examination of higher education teachers’ self-perception of digital competence, self-efficacy, and facilitating conditions: An empirical study in the context of China. Sustainability, 15, 10945. https://doi. org/10.3390/su151410945.

[21] Yuriivna, S. I., Anatoliivna, P. O., Ivanivna, P. A & Borysivna, G. G. (2022). Digitalization as a prospective direction of the contemporary education system. Trong Pedagogical University, Vinnytsia, Ukraine.

Bài viết cùng số