Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 934
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trung tâm là sự phát triển bao gồm các hệ thống thực ảo (Cyber -Phisical Systems CPS) mạng lưới Internet kết nối vạn vật (Internet of things - IoT), điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo,... Tiếp cận nghiên cứu trên dưới sự tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với lĩnh vực giáo dục đại học, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học hiện nay
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 751
Dạy học sinh cách học, cách nghĩ, cách làm tiến tới dạy học sinh biết cách tự học là một xu thế của giáo dục Việt Nam hiện nay. Dạy học theo hướng giúp học sinh tự học có hướng dẫn là hình thức dạy học đáp ứng được xu thế đó. Bài viết này trình bày một số kĩ năng nghề nghiệp cần chuẩn bị cho sinh viên Sư phạm Toán để dạy học Toán theo hướng giúp học sinh tự học có hướng dẫn.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,096
Để phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học theo định hướng mới, thay đổi phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết. Gần đây, các phương pháp và các mô hình dạy học tích cực giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực đã được đưa vào trong quá trình dạy học. Mỗi phương pháp, mô hình đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. VESTED là mô hình dạy học gồm 6 bước tương ứng: V - View, E - Experience, S - Speaking, T - Transform, E - Extend, D - Deliver. Mô hình này như bao trọn các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực, giúp học sinh hình thành sự nối kết giữa các kiến thức khoa học với đời sống, với tự nhiên, trao cho học sinh cơ hội trải nghiệm trong khi học tập, tạo được hứng thú, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực. Sinh học 10 bao gồm các kiến thức về Sinh học tế bào và Sinh học vi sinh vật. Đây là những nội dung thích hợp để vận dụng mô hình VESTED trong dạy học. Bài viết đề xuất nguyên tắc, quy trình thiết kế - tổ chức dạy học theo mô hình VESTED và một số nội dung chương trình Sinh học 10 có thể vận dụng mô hình VESTED.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 959
Trong suốt thế kỉ XX, triết học giáo dục, thông qua triết lí giáo dục và lí thuyết giáo dục đã góp phần đáng kể vào việc định hình và phát triển giáo dục, phù hợp với yêu cầu của thế kỉ thông qua các đóng góp quan trọng của các triết gia và nhà khoa học giáo dục tài năng. Bước sang thế kỉ XXI, tranh luận đã nổ ra về vai trò của triết học giáo dục trong bối cảnh mới khi mà trọng tâm trong định hướng phát triển được đặt vào công nghệ giáo dục. Bài viết này luận bàn về các vấn đề trên để dừng lại ở một nhận định rằng, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, công nghệ giáo dục được bàn đến rất nhiều, còn triết lí giáo dục lại chưa có những chuyển đổi để có thể dẫn đường.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,030
Các biện pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên trong quá trình đào tạo có vai trò quyết định đối với chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học sư phạm. Do đó, các nhà trường, đặc biệt là mỗi giảng viên cần chú trọng xây dựng môi trường học tập theo hướng khuyến khích nhu cầu và tạo động lực nghiên cứu cho sinh viên; Áp dụng các chiến lược dạy học theo hướng nghiên cứu; Thiết kế quy trình dạy học theo hướng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học; Kết hợp dạy học học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục với tổ chức cho sinh viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 549
Bài viết bàn về kiểm định tổ chức đánh giá kĩ năng nghề quốc gia.Tác giả đã thu thập thực trạng một số hoạt động kĩ năng nghề của hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kĩ năng nghề quốc gia, phân tích, đánh giá thực trạng này trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, tiếp cận lí thuyết về chuẩn hóa, kiểm định và các chức năng quản lí để đề xuất bộ tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định tổ chức đánh giá kĩ năng nghề quốc gia, đồng thời tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền. Các đề xuất này được xem là một trong những giải pháp để thực hiện chuẩn hóa tổ chức đánh giá có tính khả thi, hiệu quả.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 948
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng mô hình phòng học bộ môn Tin học ở trường trung học cơ sở bao gồm: Cấu trúc không gian và hạ tầng cơ sở với diện tích, số lượng phòng, cách bố trí về không gian, yêu cầu về cơ sở hạ tầng, sơ đồ phòng; Thiết bị Tin học với thiết bị phần cứng và phần mềm; Tổ chức hoạt động trong phòng với cách quản lí và hoạt động dạy - học trong phòng; Hướng dẫn thực hiện mô hình. Việc xây dựng mô hình được dựa trên các căn cứ, quy định, yêu cầu, mục tiêu, tình hình thực tế nhà trường trung học cơ sở nhằm đáp ứng tối đa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 779
Động lực lao động nghề nghiệp của giảng viên đại học là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả công việc. Động lực lao động của giảng viên biểu hiện trong công việc nói chung, trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng các biểu hiện động lực lao động của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sài Gòn. Kết quả khảo sát cho thấy, có 15 biểu hiện của động lực lao động, xuất hiện ở mức “Thỉnh thoảng” đến “Rất thường xuyên”, tập trung nhiều ở mức “Khá thường xuyên”. Giảng viên Trường Đại học Sài Gòn có động lực lao động trong hoạt động giảng dạy cao hơn trong nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp nâng cao động lực lao động cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sài Gòn.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 654
Dự báo giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển giáo dục của mỗi quốc gia. Một trong những nội dung của dự báo giáo dục là dự báo số lượng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông. Bài viết trình bày kinh nghiệm của Hoa Kì về dự báo số lượng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, trong đó tập trung vào phân tích phương pháp/mô hình dự báo. Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến độ tin cậy của dự báo.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 890
Thông tư số 43 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện công tác xã hội trong bệnh viện. Trên cơ sở của những văn bản pháp lí này, nghề công tác xã hội đã và đang được triển khai nhanh chóng ở các bệnh viện. Công tác xã hội trong bệnh viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa bệnh nhân với người thân, giữa người bệnh với những người chung quanh và với nhân viên y tế. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa tuyển dụng nhân viên công tác xã hội để thực hiện vai trò trợ giúp bệnh nhân đương đầu với bệnh tật, vượt qua những trở ngại kinh tế và xã hội nhằm nâng cao kết quả điều trị. Một nghiên cứu định tính sử dụng hai phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm mô tả cụ thể công việc của các nhân viên xã hội cũng như những thuận lợi và khó khăn họ phải đương đầu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của nhân viên công tác xã hội bệnh viện.