Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 616
Bài viết nghiên cứu về thực trạng thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng đào tạo từ xa tại một số trường đại học tại Việt Nam với các nội dung: 1/ Quy trình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học từ xa; 2/ Tình hình quy trình đảm bảo chất lượng đào tạo từ xa tại một số cơ sở đào tạo đại học tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy về đảm bảo chất lượng
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,204
Trong nhà trường phổ thông, học sinh dành phần lớn thời gian để học tập cùng với giáo viên và các bạn tại trường, nơi học sinh tiếp nhận kiến thức, kĩ năng và thái độ từ chương trình giáo dục phổ thông, làm nền tảng phát triển năng lực trong các lĩnh vực khác nhau trong tương lai, là nơi học sinh hình thành và phát triển nhân cách, phương pháp học tập, hành vi ứng xử tích cực giữa bản thân với mọi người và môi trường xung quanh.Do vậy, môi trường học tập thân thiện có tầm quan trọng không nhỏ trong việc hoàn thiện phẩm chất và năng lực cho học sinh. Bài viết trình bày một số nội dung liên quan đến vai trò và giải pháp phát triển môi trường học tập thân thiện, làm cơ sở lí luận cho các nghiên cứu tiếp theo và là thông tin cơ bản để các trường phổ thông lựa chọn nội dung, cách tiếp cận phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhà trường trong phát triển môi trường học tập thân thiện và đặc biệt là hình thành chân dung người học sinh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 982
Nguyễn Công Trứ có một vai trò và vị trí quan trọng trong văn chương đầu Triều Nguyễn nên hầu hết các bộ văn học sử Việt Nam đều có chương viết riêng về thơ văn của ông. Tác gia Nguyễn Công Trứ được đưa vào giảng dạy trong chương trình từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông, rồi đến khoa Ngữ văn bậc Đại học. Riêng ở chương trình phổ thông, Nguyễn Công Trứ được học như một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn học trung đại. Hiện nay, chương trình phổ thông đang dạy bài Bài ca ngất ngưởng, trong sách Ngữ văn 11 tập một, ở cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao. Sách biên soạn đã lâu nhưng văn bản, chú giải, soạn giảng cho Bài ca ngất ngưỡng vẫn còn có một số vấn đề sai sót cần phải bổ sung, làm rõ. Bài viết trình bày về các vấn đề đó và đề xuất một số ý kiến với mong muốn biên soạn về thơ văn Nguyễn Công Trứ tốt hơn trong chương trình Ngữ văn sắp tới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 738
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở đại học là xu thế toàn cầu, đã và đang thực hiện khả năng suy luận có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người, khả năng này cần được quan tâm phát triển ngay từ độ tuổi mẫu giáo. Vì vậy, bài viết này đưa ra một số biện pháp phát triển khả năng suy luận cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học. Các biện pháp này đã được thực nghiệm và chứng minh được tính hiệu quả, tính khả thi cao.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,010
Bài viết trình bày bản chất và sự cần thiết của quá trình học tự chủ của người học trong bối cảnh nền giáo dục phải đối mặt với những tác động hai chiều của sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kĩ thuật và công nghệ diễn ra trên nhiều bình diện. Bên cạnh đó, bài viết chỉ ra mô hình thể hiện sự tác động tích cực hay mối quan hệ mật thiết và ràng buộc giữa đánh giá quá trình (Đánh giá hình thành - Formative Assessment) của người dạy thông qua phản hồi đến người học và đến việc học tập tự chủ của người học. Nâng cao hiệu quả đánh giá của người dạy thông qua hình thức phản hồi đến người học là cách làm thiết thực để đảm bảo và phát huy hiệu quả của việc học tập tự chủ của người học từ đó nâng cao chất lượng đầu ra (kết quả học tập).
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,916
Chuẩn đầu ra nhóm ngành đào tạo cử nhân sư phạm cần được xây dựng, phát triển để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chương trình giáo dục phổ thông mới nói riêng. Chuẩn được xây dựng theo quan điểm tiếp cận hệ thống, tiếp cận năng lực, tiếp cận chức năng và tiếp cận thực tiễn. Trên cơ sở kế thừa các Chuẩn đầu ra đã được nghiên cứu, áp dụng ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, dựa vào yêu cầu mới của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chương trình giáo dục phổ thông mới, tác giả đề xuất Khung Chuẩn đầu ra cho nhóm ngành đào tạo cử nhân sư phạm gồm: 1/ Phẩm chất (Phẩm chất chính trị và ý thức công dân; Đạo đức và phong cách sư phạm); 2/ Năng lực (Năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực nghiệp vụ sư phạm).
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 908
Trong nghiên cứu, 390 phụ huynh và 78 giáo viên thuộc 13 trường mẫu giáo của các tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Huế và Cần Thơ đại diện cho miền Bắc, miền Trung và miền Nam đã tham gia trả lời Phiếu nhận xét về mức độ quan trọng của 50 tiêu chí (gồm 4 nội dung) đánh giá chất lượng giáo dục ở trường MN có nguồn gốc từ các tài liệu và công cụ đánh giá quốc tế.Từng tiêu chí được đánh giá theo 7 mức độ (từ mức độ 1: không quan trọng đến mức độ 7: rất quan trọng) tương ứng với điểm số từ 1 đến 7. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao mức độ quan trọng của từng tiêu chí nêu ra trong bộ phiếu (giá trị trung bình của từng tiêu chí đều ≥ 4); nhìn chung, giữa giáo viên và phụ huynh có sự thống nhất cao trong thứ bậc xếp hạng mức độ quan trọng của các tiêu chí (với hệ số tương quan về thứ bậc xếp hạng rs = .83); giữa các tiêu chí trong từng nội dung của cả bốn nội dung chất lượng (Chất lượng quá trình giáo dục; Chất lượng sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình; Chất lượng định hướng giáo dục; Chất lượng cấu trúc giáo dục) ở giáo viên và phụ huynh tương quan chặt chẽ với nhau, từ đó cho thấy cả bốn nội dung này đều có thể được sử dụng ở Việt Nam để đánh giá chất lượng giáo dục ở các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng bậc học mầm non nước ta tiến tới đạt chất lượng ngang bằng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 682
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng dựa trên xu hướng phát triển của một nền tảng tích hợp cao về kết nối kĩ thuật số và công nghệ thông tin đã mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Để tận dụng lợi thế của xu hướng này, nền giáo dục Việt Nam cần phải thay đổi toàn diện và căn bản, trong đó cần quan tâm đến quản trị trường học. Bài viết bàn về vấn đề quản trị trường học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, vận dụng kiến thức trong thời kì cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết trình bày tổng quan về giáo dục trong giai đoạn hiện nay; tìm hiểu thách thức đặt ra đối với hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0. Ngoài ra, bài báo cũng đưa ra một số giải pháp để phát triển hệ thống, nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 769
Sách giáo khoa là một trong những yếu tố quyết định nhất đến chất lượng giáo dục của một quốc gia bên cạnh yếu tố giáo viên, hệ thống tổ chức giáo dục và hệ thống chương trình giáo dục. Xu hướng xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa theo hướng phát triển năng lực đang phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến, nhằm đáp ứng những đòi hỏi và thách thức của xã hội hiện đại. Sách giáo khoa môn Khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực cần thỏa mãn các yêu cầu sau: Chức năng của sách giáo khoa môn Khoa học tự nhiên bao gồm: (1) Cung cấp thông tin và tra cứu thông tin khoa học. (2) Định hướng các hoạt động dạy học. (3) Tạo động cơ, hứng thú học tập, tìm tòi và khám phá khoa học. (4) Tạo điều kiện dạy học tích hợp. (5) Tạo điều kiện dạy học phân hóa. (6) Giáo dục đạo đức, giá trị. (7) Hỗ trợ tự học, tự nghiên cứu, vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. (8) Củng cố, mở rộng kiến thức. (9) Tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình. (10) Hướng nghiệp. Cấu trúc chung sách giáo khoa môn Khoa học tự nhiên gồm 3 phần: Phần mở đầu; Phần thân; Phần cuối. Sách giáo khoa môn Khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực sẽ được thể hiện qua 2 tuyến: Tuyến cung cấp nội dung cốt lõi; Tuyến định hướng các hoạt động và mở rộng (tìm tòi, khám phá và cung cấp thông tin).
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,004
Nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiếu số không chỉ là nhiệm vụ của ngành Giáo dục mà còn là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị và xã hội. Trước mắt là cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, lâu dài là góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước. Khi tiến hành nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp và quan tâm tới các yếu tố tác động, vì mỗi yếu tố có vai trò nhất định đối với hiệu quả của việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

