Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,547
Bài viết xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng mạng facebook của sinh viên của các trường đại học ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở lí thuyết được phân tích và tổng hợp từ những nghiên cứu trước. Áp dụng phương pháp định lượng, cụ thể là phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy bội được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng facebook của sinh viên bao gồm: Sự hữu ích, chia sẻ nguồn lực, sự thưởng thức, sự hợp tác và môi trường xã hội.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 745
Bài viết phân tích một số vấn đề về hình thành và phát triển năng lực cốt lõi trong sách giáo khoa môn Khoa học Tự nhiên cấp Trung học cơ sở. Trong bài viết này, tác giả đã đề xuất cấu trúc sách giáo khoa môn Khoa học Tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực và phát triển một số năng lực cốt lõi qua các hoạt động của bài học. Theo tác giả, phát triển năng lực là một xu hướng trên thế giới cũng như Việt Nam, sách giáo khoa đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Vì vậy, cần quan tâm thể hiện tích hợp và phát triển các năng lực trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, cũng cần phân tích cụ thể ở mỗi chủ đề, bài học để xác định các mức độ, cách thức phù hợp thể hiện các năng lực, tránh khiên cưỡng hoặc ôm đồm trong việc thực hiện việc tích hợp, phát triển các năng lực chung.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 704
Việc phát triển giáo viên nói chung, giáo viên trung học cơ sở nói riêng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là cần thiết bởi không chỉ thực hiện theo yêu cầu của Luật Viên chức mà còn nhằm nâng cao năng lực, trình độ giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, gắn chặt với sự phát triển nghề nghiệp đối với cá nhân giáo viên trung học cơ sở. Bài viết đưa ra một số vấn đề về thực trạng và kiến nghị giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở theo chuẩn chức danh nghề nghiệp tại thành phố Hà Nội.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 860
Bài viết trình bày tổng quan một số kết quả nghiên cứu về học sinh học chậm (slow learner): Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và một số biện pháp hay lưu ý sư phạm trong dạy học đối tượng học sinh này. Tác giả tập trung tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, từ đó đưa ra những gợi ý về việc nghiên cứu cũng như vận dụng các kết quả nghiên cứu đã có trong điều kiện Việt Nam với giới hạn chủ yếu trong dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông trung học. Từ đó, tác giả trình bày về khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và một số biện pháp, lưu ý sư phạm trong dạy học đối tượng học sinh học chậm môn Toán ở Việt Nam.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 926
Dựa trên kết quả khảo sát 800 học sinh, sinh viên tại Hà Nội, Thái Nguyên, Nghệ An, Cần Thơ năm 2016, bài viết nêu ý kiến nhận định của học sinh - sinh viên về một số tồn tại trong giáo dục, học tập hiện nay. Nhìn chung, một số vấn đề cần quan tâm trong giáo dục thời gian qua được học sinh - sinh viên đề cập đến như: Mục tiêu giáo dục trong nhà trường còn thiên lệch; Việc đổi mới chương trình đào tạo cũng như đổi mới hình thức thi cử bậc phổ thông còn bất cập; Phương thức giáo dục chưa có sự gắn kết giữa lí thuyết với thực hành, chưa khuyến khích khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh sinh viên; Chất lượng giáo viên còn hạn chế cả về kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Mong đợi chủ yếu của học sinh - sinh viên hiện nay là mục tiêu, phương pháp giáo dục của nhà trường cần đổi mới theo hướng tạo điều kiện, môi trường giúp người học vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn; hình thành được kĩ năng, tư duy làm việc độc lập, tích cực, sáng tạo...
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,400
Bài viết đưa ra quan niệm về không gian, trí tưởng tượng không gian thông qua các khả năng đặc trưng. Đặc biệt, trong bài viết, tác giả nhấn mạnh vai trò của việc phát triển trí tưởng tượng không gian đối với việc nhận thức hình học. Một số thể hiện của trí tưởng tượng không gian trong học toán và trong thực tế. Theo tác giả bài viết, trí tưởng tượng không gian có vai trò quan trọng trong giáo dục toán học cho học sinh, không chỉ trong giải quyết các bài toán toán học mà còn có nhiều ứng dụng trong giải quyết vấn đề thực tế.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 686
Tiếp cận từ nhu cầu của Việt Nam về nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức, từ các căn cứ thực tiễn và đặc biệt là khả năng cống hiến thực tế của đội ngũ nữ trí thức ở độ tuổi trên 55, tác giả chứng minh rằng ở độ tuổi đó, nữ trí thức vẫn còn đủ sức khỏe để làm việc, đang ở độ tuổi chín muồi về bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, tự tạo được sự ổn định cân bằng trong cuộc sống riêng, có điều kiện tập trung trí tuệ, tâm huyết và thời gian cho công việc. Nữ trí thức nghỉ hưu ở độ tuổi 55 vừa là sự bất bình đẳng về cơ hội thăng tiến, phát triển của nữ, vừa làm lãng phí nguồn nhân lực trí tuệ cao trong công cuộc phát triển đất nước. Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy, khai thác năng lực thực tế của đội ngũ nữ trí thức sau tuổi nghỉ hưu
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 802
Dạy học theo tiếp cận năng lực là cách tiếp cận đồng thời được coi là một hoạt động thực tiễn, trực tiếp của quá trình giáo dục và chịu sự tác động, chi phối của quá trình quản lí mang tính tổ chức và hướng đích. Chủ thể quản lí vừa quản lí hoạt động dạy của người giáo viên vừa quản lí hoạt động học tập của học sinh trong quá trình dạy - học, đồng thời hỗ trợ về cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật và môi trường để phục vụ hoạt động dạy theo năng lực của học sinh, nhằm phát huy tối đa hiệu quả mục tiêu ban đầu đề ra. Quản lí dạy học theo tiếp cận năng lực ở các trường treung học phổ thông sẽ có những đặc điểm rất cơ bản giúp quá trình quản lí dạy học theo tiếp cận năng lực có những bước đột phá lớn so với cách thức quản lí dạy học theo truyền thống, góp phần vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nước ta giai đoạn hiện nay
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 650
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở giáo dục đào tạo đại học hàng đầu Việt Nam, có sứ mệnh: “Đào tạo nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, làm nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”. Để hoàn thành sứ mệnh này, nguồn vốn hàng năm Đại học Quốc gia Hà Nội cần sử dụng rất lớn, trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp cho trường cũng như nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước của trường mặc dù cao hơn so với mặt bằng chung nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu phát triển của nhà trường. Vì vậy, việc giải quyết bài toán tăng cường nguồn lực tài chính và hiệu quả quản lí tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội là vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 797
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực địa phương và yêu cầu đáp ứng được với cuộc sống hiện đại, mỗi người sống trong xã hội hiện tại cần có năng lực và phẩm chất của công dân thế kỉ XXI. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hình thành và phát triển kĩ năng thế kỉ XXI đã trở thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại. Trong khi hiện nay, việc giáo dục kĩ năng thế kỉ XXI ở các trường trung học cơ sở vùng khó khăn mới chỉ quan tâm giáo dục một số kĩ năng sống giúp học sinh bước đầu hòa nhập với cuộc sống.Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường hiện nay, cần phải đẩy mạnh hơn nữa các giải pháp giáo dục kĩ năng thế kỉ XXI cho học sinh trung học cơ sở vùng khó khăn. Bài viết trình bày định hướng về mục tiêu giáo dục kĩ năng thế kỉ XXI cho học sinh trung học cơ sở vùng khó khăn; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các kĩ năng thế kỉ XXI cần thiết giáo dục cho học sinh trung học cơ sở vùng khó khăn; đề xuất cách thức giáo dục thông qua việc dạy học tích hợp trong các môn học và giáo dục thông qua hoạt động trải nghiệm.