Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,631
Bài viết giới thiệu mô hình giáo dục đại học của một số nước tiêu biểu ở ba châu lục: Bắc Mĩ, Châu Âu và Châu Á. Các loại hình đào tạo đại học, số lượng sinh viên đăng kí học đại học, các hình thức tuyển sinh đại học và các chính sách, kiểm định chất lượng của các trường đại học được trình bày và phân tích. Cuối cùng sẽ là một số nhận xét được rút ra làm bài học kinh nghiệm cho giáo dục đại học ở Việt Nam.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 640
Tiếp cận từ nhu cầu của Việt Nam về nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức, từ các căn cứ thực tiễn và đặc biệt là khả năng cống hiến thực tế của đội ngũ nữ trí thức ở độ tuổi trên 55, tác giả chứng minh rằng ở độ tuổi đó, nữ trí thức vẫn còn đủ sức khỏe để làm việc, đang ở độ tuổi chín muồi về bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, tự tạo được sự ổn định cân bằng trong cuộc sống riêng, có điều kiện tập trung trí tuệ, tâm huyết và thời gian cho công việc. Nữ trí thức nghỉ hưu ở độ tuổi 55 vừa là sự bất bình đẳng về cơ hội thăng tiến, phát triển của nữ, vừa làm lãng phí nguồn nhân lực trí tuệ cao trong công cuộc phát triển đất nước. Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy, khai thác năng lực thực tế của đội ngũ nữ trí thức sau tuổi nghỉ hưu
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 601
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở giáo dục đào tạo đại học hàng đầu Việt Nam, có sứ mệnh: “Đào tạo nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, làm nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”. Để hoàn thành sứ mệnh này, nguồn vốn hàng năm Đại học Quốc gia Hà Nội cần sử dụng rất lớn, trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp cho trường cũng như nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước của trường mặc dù cao hơn so với mặt bằng chung nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu phát triển của nhà trường. Vì vậy, việc giải quyết bài toán tăng cường nguồn lực tài chính và hiệu quả quản lí tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội là vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 971
Việc tổng kết kinh nghiệm đào tạo giáo viên phổ thông hiện nay đang là vấn đề cấp bách không chỉ đối với giáo dục Việt Nam mà cả đối với các nền giáo dục lớn trên thế giới. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo giáo viên của các nước phát triển gồm: Hoa Kì, Phần Lan, Cộng hòa liên bang Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore… để rút ra những kinh nghiệm quý báu cho việc đổi mới đào tạo giáo viên ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Từ đó, đề xuất các giải pháp tổ chức mô hình đào tạo giáo viên hiện nay, trong đó nhấn mạnh việc duy trì và phát triển mô hình đào tạo truyền thống và đào tạo nối tiếp là giải pháp phù hợp nhất hiện nay đối với Việt Nam.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,024
Bài viết trình bày vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với việc tư vấn tâm lí cho học sinh cấp Trung học cơ sở. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giáo viên chủ nhiệm hiểu biết về năng lực tư vấn tâm lí. Đồng thời, họ có thái độ tích cực, sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ học sinh có khó khăn tâm lí. Trong bài, tác giả cho rằng cần bồi dưỡng, rèn luyện cho giáo viên chủ nhiệm các kĩ năng tư vấn tâm lí nhiều hơn để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Qua đó, các nhà trường có thể nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,451
Quan điểm đánh giá theo tiếp cận năng lực đang được vận dụng vào trong các môn học ở mọi cấp học. Môn Giáo dục học là môn học hướng vào việc hình thành và phát triển năng lực nghề cho sinh viên sư phạm nên việc tổ chức dạy học và đánh giá môn học này theo tiếp cận năng lực là hết sức cần thiết. Bài viết nêu lên khái niệm về đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực và các thành tố cụ thể của quá trình đánh giá đó nhằm giúp người giảng viên nâng cao chất lượng việc dạy học và đánh giá kết quả học tập môn học này theo tiếp cận năng lực.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,529
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc khơi dậy và phát triển năng lực sáng tạo của mỗi con người. Yêu cầu của giáo dục ngày nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức cho học sinh mà quan trọng hơn là phải giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức bằng việc phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, phương tiện mới, cách giải quyết mới để tạo ra kết quả mới. Bài viết phân tích ưu thế của phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Toán; đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Toán ở Trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh và đưa ra ví dụ minh họa.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,775
Stress ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học tập, rèn luyện của học viên các trường đại học quân sự. Phòng, chống stress cho học viên là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu và thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao kết quả học tập, rèn luyện của từng học viên nói riêng và chất lượng giáo dục đào tạo của các trường đại học quân sự nói chung. Nội dung bài viết đề cập đến những ảnh hưởng, tác động của stress đối với hoạt động học tập, rèn luyện của học viên các trường đại học quân sự, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp phòng, chống stress cho học viên trong quá trình học tập, rèn luyện.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,480
Bài viết xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng mạng facebook của sinh viên của các trường đại học ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở lí thuyết được phân tích và tổng hợp từ những nghiên cứu trước. Áp dụng phương pháp định lượng, cụ thể là phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy bội được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng facebook của sinh viên bao gồm: Sự hữu ích, chia sẻ nguồn lực, sự thưởng thức, sự hợp tác và môi trường xã hội.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 757
Mĩ là một đất nước rộng lớn, gồm 50 tiểu Bang. Các chính sách của Mĩ nói chung và chính sách giáo dục nói riêng có tính chất tương đối độc lập giữa các Bang. Bài viết trình bày sơ lược hệ thống chính sách đối với giáo viên phổ thông ở Mĩ, bao gồm: 1/ Chính sách đào tạo ban đầu; 2/ Chính sách cấp chứng chỉ; 3/ Chính sách nhiệm kì; 4/ Chính sách phát triển chuyên môn và đánh giá giáo viên; 5/ Chính sách lương; 6/ Chính sách sử dụng và tạo động lực cho giáo viên; 7/ Chính sách về các hiệp hội giáo viên; 8/ Chính sách hưu trí. Mặc dù các chính sách về giáo viên phổ thông của Mĩ chưa phải là hoàn hảo, song vẫn là nguồn tham khảo quý giá đối với Việt Nam