Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 928
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định thành công của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương. Bài viết trình bày và phân tích về phát triển khung năng lực chung, cơ bản bắt buộc mà nguồn nhân lực cần có để đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, gồm 4 nhóm năng lực chính: (1) Năng lực kĩ thuật/ chuyên môn; (2) Năng lực về phương pháp; (3) Năng lực xã hội; (4) Năng lực cá nhân. Dựa trên khung năng lực này, doanh nghiệp có thể hoạch định chi tiết khung năng lực chung của mình cũng như hồ sơ năng lực của từng loại nhân viên.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,262
Bài viết đưa ra hệ thống tiêu chí về chất lượng thiết bị dạy học và hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học trên cơ sở làm rõ các khái niệm thiết bị dạy học, chất lượng, chất lượng thiết bị dạy học, hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học. Hệ thống các tiêu chí này có thể vận dụng trong việc kiểm soát chất lượng trong sản xuất hoặc khi mua sắm thiết bị dạy học và trong đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học của học sinh, của một nhà trường, của một huyện, tỉnh hoặc của cả ngành.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,007
Hai kĩ năng bộ phận làm nên kĩ năng Đọc là kĩ năng Đọc cơ bản và kĩ năng Đọc hiểu. Kĩ năng Đọc cơ bản gồm nhiều thành tố: Làm việc với sách, Nhận biết âm vị học, Đọc tiếng hoặc đọc từ, Đọc trơn, Hiểu nghĩa tường minh. Bài viết đưa ra những phân tích kĩ năng Đọc cơ bản được ứng dụng vào việc xác định yêu cầu cần đạt (đầu ra của năng lực) và nội dung của phần Đọc trong chương trình của môn Ngôn ngữ quốc gia (ở Việt Nam là môn Ngữ văn) ở các lớp của bậc học Mầm non và cấp Tiểu học.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 728
Nhân cách của hiệu trưởng là yếu tố quan trọng, cần thiết tạo nên sự thành công trong công tác đổi mới quản lí giáo dục Việt Nam hiện nay. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lí giáo dục và quản lí nhà trường, người hiệu trưởng trường tiểu học cần thể hiện rõ những phẩm chất nhân cách của mình, đó là: 1/ Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; 2/ Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; 3/ Năng lực quản lí trường tiểu học; 4/ Năng lực tổ chức phối hợp với gia đình học sinh, cộng đồng và xã hội. Qua đó, bộ mặt nhà trường thay đổi, nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương, góp phần trang bị kiến thức và nguồn nhân lực mới cho đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 880
Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Kiên Giang nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay. Theo tác giả bài viết, phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay là một đòi hỏi vô cùng cấp thiết. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp trên một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế ở mỗi đơn vị sẽ từng bước phát triển được đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Kiên Giang nói riêng một cách vững bền, đáp ứng sự mong đợi của toàn xã hội.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 772
Tiếp cận CDIO trong dạy học cho sinh viên đã giúp các nhà giáo dục cụ thể hóa và ban hành chuẩn đầu ra. Thực tế áp dụng chuẩn đầu ra tại Trường Đại học Lạc Hồng cho thấy còn khá nhiều khó khăn, nhất là trong dạy học các học phần cơ bản nói chung và học phần Toán nói riêng, bởi vì có khá nhiều kĩ năng cần được rèn luyện cho sinh viên. Đến nay, dạy học các học phần Toán cần hướng vào rèn luyện các kĩ năng nào là câu hỏi chưa có câu trả lời. Trên cơ sở nghiên cứu về chuẩn đầu ra theo tiếp cận CDIO của khối ngành Kinh tế, nghiên cứu về thực tiễn kĩ năng nghề kinh tế và vai trò của môn Toán đối với khối ngành Kinh tế, chúng tôi đề xuất một số kĩ năng thông qua dạy học các học phần Toán nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,745
Văn hóa ứng xử học đường có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm nên môi trường thuận lợi cho hoạt động dạy học - giáo dục. Vì vậy, văn hóa ứng xử học đường trở thành một chủ đề được nhiều tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Văn hóa ứng xử học đường và giáo dục văn hóa ứng xử học đường đã được các nghiên cứu đề cập thông qua các hướng tiếp cận khác nhau, có thể hệ thống theo hai nhóm: Tiếp cận trực tiếp hoặc tiếp gián tiếp. Các công trình nghiên cứu đã tạo nên nền tảng tri thức quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu và xây dựng hệ thống lí luận về văn hóa ứng xử học đường và giáo dục văn hóa ứng xử học đường.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 775
E-Learning là một phương thức dạy học mới dựa trên Công nghệ thông tin và truyền thông. Với E-Learning, việc học trở nên linh hoạt và mở. Việc kết hợp áp dụng phương pháp dạy học vi mô với bài giảng E-Learning thông qua học phần Thí nghiệm phương pháp dạy học Hóa học cho sinh viên sư phạm Hóa học nhằm nâng cao năng lực tự học và rèn luyện một số kĩ năng dạy học Hóa học cho sinh viên, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Hóa học ở trường đại học sư phạm theo học chế tín chỉ.
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 893
Thay đổi cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là góp phần quan trọng để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường sư phạm theo hướng tăng cường tổ chức hoạt động học thông qua hoạt động sinh viên chủ động học tập, phát triển tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, sẵn sàng thích ứng với những tình huống nảy sinh trong học tập và rèn luyện, phát triển năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp. Bài viết trình bày quy trình tổ chức dạy học bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp vào môn học Phương pháp dạy học Toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh được những ưu điểm của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp trong dạy học đáp ứng được cách dạy học phát triển năng lực nghề nghiệp
Số: /2020
Số CIT: 0
Số lượt xem: 699
Tiếp cận từ nhu cầu của Việt Nam về nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức, từ các căn cứ thực tiễn và đặc biệt là khả năng cống hiến thực tế của đội ngũ nữ trí thức ở độ tuổi trên 55, tác giả chứng minh rằng ở độ tuổi đó, nữ trí thức vẫn còn đủ sức khỏe để làm việc, đang ở độ tuổi chín muồi về bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, tự tạo được sự ổn định cân bằng trong cuộc sống riêng, có điều kiện tập trung trí tuệ, tâm huyết và thời gian cho công việc. Nữ trí thức nghỉ hưu ở độ tuổi 55 vừa là sự bất bình đẳng về cơ hội thăng tiến, phát triển của nữ, vừa làm lãng phí nguồn nhân lực trí tuệ cao trong công cuộc phát triển đất nước. Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy, khai thác năng lực thực tế của đội ngũ nữ trí thức sau tuổi nghỉ hưu

