Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 809
Để thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và sinh viên nói riêng - những chủ tương lai của đất nước - sống có lí tưởng, khát vọng cống hiến, việc gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục lí tưởng cách mạng với hoạt động giảng dạy một môn học cụ thể là một yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết. Do đó, bài viết tập trung bàn về những ưu điểm của bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục lí tưởng cách mạng cho sinh viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,648
Chuyển đổi số đã là nhu cầu khách quan của sự phát triển, đặt ra nhiều yêu cầu mới cho tất cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực giáo dục được coi là ưu tiên hàng đầu. Chất lượng giảng dạy của giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần quan trọng trong đổi mới toàn diện giáo dục. Bài viết khảo sát ý kiến của 268 người, trong đó có 40 cán bộ quản lí, 162 nữ và 106 nam ở một số trường đại học công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn để phỏng vấn bán cấu trúc theo phương pháp thuận tiện, cỡ mẫu là 16 người gồm: 08 cán bộ quản lí và 08 giảng viên tham gia giảng dạy tại các trường đại học. Kết quả cho thấy, đội ngũ giảng viên trong trường đại học ngày một nâng cao về số lượng và năng lực chuyên môn; kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, dưới sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều yêu cầu mới về kĩ năng công nghệ, áp dụng công nghệ vào giảng dạy đòi hỏi giảng viên phải có những năng lực thực hiện thích ứng với chuyển đổi số trong giáo dục. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 770
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 583
Trong công tác đào tạo nghề giáo viên mầm non, các trường sư phạm thường nghiên cứu, cập nhật những mô hình liên kết có ý nghĩa. Mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên của Clarke và Hollingsworth là một trong những lựa chọn đó. Nó chứa đựng những miền tác động lên giáo viên hoặc giáo viên tương lai - người học, từ đó giúp người học phát triển nghề nghiệp, đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình thực hành tại cơ sở. Quy trình vận hành mạng lưới liên kết và loại hình trường mầm non liên kết tổ chức thực hành cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non được xem là yếu tố ảnh hưởng dẫn đến sự đổi mới trong phát triển nghề nghiệp cho người học. Nhằm xác định quy trình vận hành tổ chức thực hành nghề nghiệp phù hợp, tập trung mở rộng mạng lưới liên kết về chất lượng và số lượng trường mầm non ngoài công lập, trường sư phạm cần tìm hiểu những điều chỉnh, đổi mới khi áp dụng quy trình liên kết đang vận hành; từ đó xác định những thay đổi từ sinh viên ngành Giáo dục mầm non. Bài viết trình bày một phần thực trạng của quá trình vận hành thử nghiệm đó cũng như nhận thức của sinh viên tại một trường cao đẳng khi thay đổi loại hình trường mầm non thực hành nghề nghiệp.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 789
Bài viết tập trung phân tích thực trạng quản trị tại các trường phổ thông tư thục ở vùng Đông Nam Bộ, với mục tiêu làm rõ những thách thức mà hệ thống giáo dục tư thục trong khu vực đang phải đối mặt. Thông qua các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ nhiều nhóm đối tượng, bao gồm cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh và học sinh. Kết quả cho thấy, mặc dù hệ thống trường tư thục đang trên đà phát triển nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác quản lí và tổ chức giáo dục. Những vấn đề nổi bật bao gồm sự thiếu đồng bộ trong quản lí nhân sự, hạn chế về nguồn lực công nghệ và đặc biệt là sự thiếu hụt trong các dịch vụ hỗ trợ tâm lí, hướng nghiệp cho học sinh. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và sự phát triển toàn diện của học sinh. Nghiên cứu kết luận rằng, để nâng cao hiệu quả quản trị, các trường cần tập trung cải thiện quy trình quản lí, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường các hoạt động hỗ trợ học sinh và giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục hiện đại.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,069
Trong quá trình giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ, việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường, giữa cha mẹ và giáo viên trong cả nội dung và hình thức thực hiện đều rất thiết yếu. Nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ, đồng thời phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ. Qua đó, một số biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường được đưa ra trong giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật trí tuệ 9 - 12 tuổi. Kết quả cho thấy, cha mẹ và giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng, sự cần thiết của việc phối hợp và quá trình phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Tuy nhiên, các hình thức và phương pháp phối hợp chưa được đa dạng và thống nhất giữa giáo viên và cha mẹ của trẻ nên hiệu quả chưa cao. Thực trạng chỉ ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,326
Trong dạy học môn Khoa học Tự nhiên, việc khám phá kiến thức thông qua thực nghiệm sẽ tạo cơ hội để học sinh phát triển phẩm chất và năng lực. Đặc biệt là năng lực khoa học tự nhiên nói chung và năng lực tìm hiểu tự nhiên nói riêng. Tuy nhiên, nếu tổ chức dạy học theo phương pháp truyền thống thì sẽ có một số hạn chế đối với môn khoa học thực nghiệm. Vì vậy, việc vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học để học sinh tiếp cận kiến thức là hướng đi phù hợp trong dạy học môn Khoa học Tự nhiên, bởi khi đó nội dung kiến thức được người học kiểm chứng thông qua thực nghiệm. Đây là cơ hội để học sinh có thể vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày. Bài viết đã đưa ra quy trình nghiên cứu khoa học và vận dụng quy trình này trong dạy học nội dung “Quang hợp ở thực vật”, Khoa học Tự nhiên 7. Trong dạy học bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, giáo viên cần tổ chức linh hoạt theo các bước của quy trình để học sinh tự khám phá bản chất khoa học của vấn đề nghiên cứu một cách hiệu quả.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 969
Trong dạy học Tin học, năng lực dạy học STEM là một trong những năng lực mới, cần phát triển cho sinh viên Sư phạm Tin học. Trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Tin học 2018, Robotics thuộc chuyên đề định hướng Khoa học máy tính, đây là một lĩnh vực gắn liền với giáo dục STEM. Nghiên cứu này làm nổi bật các năng lực thành phần và biểu hiện cụ thể của năng lực dạy học STEM của sinh viên ngành Sư phạm Tin học; đề xuất quy trình phát triển năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Sư phạm Tin học thông qua dạy học về Robotics. Vận dụng quy trình này, giảng viên tổ chức cho sinh viên thiết kế các tình huống dạy học Robotics, góp phần phát triển năng lực dạy học STEM cho sinh viên Sư phạm Tin học. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn đào tạo giáo viên phổ thông, sinh viên Sư phạm của các trường Sư phạm trên toàn quốc, góp phần phát triển năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Sư phạm Tin học.
Số: /2024 Số CIT: 0 Số lượt xem: 799
Singapore luôn là một hình mẫu được nghiên cứu, học hỏi, phân tích rất kĩ lưỡng. Những câu chuyện về sự phát triển thần kì của quốc gia này không còn mới mẻ. Tuy nhiên, sau hết nghiên cứu này tới nghiên cứu khác, bài báo này tới bài báo khác, một câu hỏi cần đặt ra là: Chúng ta thực sự đã học được gì từ Singapore và đã áp dụng được gì cho Việt Nam? Sự phát triển mạnh mẽ của Singapore đã tạo nên những khoảng cách đáng kể và giúp đất nước này vượt lên trên nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, ở một số lĩnh vực quan trọng của giáo dục, khoa học, công nghệ… Tuy đó là một sự thật đã được chấp nhận lâu nay nhưng cũng là điều rất cần được suy ngẫm để thay đổi. Mục tiêu của Việt Nam vẫn phải là đuổi kịp và có thể vượt Singapore trong nhiều lĩnh vực. So với Singapore, Việt Nam có nhiều lợi thế về thiên nhiên và tiềm năng con người. Những chiến lược hợp lí về sự kết hợp hiệu quả của giáo dục với văn hóa nhằm khai thác các tiềm năng này sẽ tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội trong những cuộc đua hướng đến tương lai.