Một trong những xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay chính là toàn cầu hóa, quốc tế hóa và liên kết trong giáo dục đại học. Để thích ứng và tiếp cận với thị trường lao động quốc tế, đáp ứng các yêu cầu hội nhập, các cơ sở giáo dục cần phải chủ động trong việc thực hiện công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng đặc biệt là kiểm định chất lượng quốc tế. Việc thực hiện nhiệm vụ này không chỉ giúp các cơ sở giáo dục đại học gia tăng trách nhiệm giải trình với các bên liên quan mà còn có thể quảng bá được thương hiệu, nâng cao được năng lực cạnh tranh của nhà trường, từ đó thu hút được nguồn sinh viên có chất lượng. Hiện nay, tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công nhận hoạt động nhiều tổ chức kiểm định bao gồm cả trong và ngoài nước điển hình như: Hcéres, AUN-QA, FIBAA, ASIIN, ACBSP... Mỗi tổ chức đều có những yêu cầu chuyên biệt dựa trên các tiêu chuẩn để công nhận chất lượng. ASIIN là một trong các tổ chức được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cấp phép từ năm 2016. Đây là tổ chức đến từ Châu Âu nên cũng có nhiều sự khác biệt trong tiến trình thực hiện công nhận chất lượng.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 904
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,371
Nghiên cứu này nhằm khám phá thực trạng hệ sinh thái giáo dục số và chuyển đổi số tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để khảo sát 300 cán bộ quản lí và giáo viên, 200 học sinh, tập trung vào hạ tầng công nghệ, tài nguyên số, năng lực số, chính sách hỗ trợ và sự tham gia của các bên liên quan. Kết quả cho thấy, dù đã đạt một số tiến bộ, các trường vẫn gặp khó khăn như hạ tầng chưa đồng bộ, tài chính hạn chế, năng lực số chưa đồng đều, đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như nâng cấp hạ tầng, cải thiện kĩ năng số, đảm bảo tài chính bền vững, tăng cường hợp tác và xây dựng văn hóa giáo dục số. Bài viết cung cấp các đề xuất thực tiễn nhằm thúc đẩy hệ sinh thái giáo dục số và chuyển đổi số toàn diện. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lí giáo dục, giáo viên và các bên liên quan trong việc xây dựng và triển khai hệ sinh thái giáo dục số tại tỉnh Hòa Bình cũng như các địa phương khác trong cả nước.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,012
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ can thiệp trẻ rối loạn phát triển nói chung và rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) nói riêng. VRapeutic là một phần mềm chuyên biệt được thiết kế nhằm cải thiện khả năng tập trung, quản lí cảm xúc và nâng cao kĩ năng xã hội cho trẻ ADHD bằng cách sử dụng môi trường thực tế ảo. Bài viết “Ứng dụng phần mềm thực tế ảo VRapeutic trong can thiệp trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý” tập trung vào việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ thực tế ảo (VR) để hỗ trợ trẻ mắc hội chứng ADHD. Phần mềm này đã được Việt hóa và điều chỉnh để phù hợp với môi trường giáo dục và trị liệu tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 30 trẻ từ 6 đến 12 tuổi có chỉ số IQ trên 70, sử dụng phần mềm VRapeutic qua nhiều buổi trị liệu. Kết quả cho thấy sự tiến bộ nhất định trong việc giảm các triệu chứng về tăng động và khó khăn trong học tập, tuy nhiên thay đổi chưa thực sự rõ nét do các yếu tố như thời gian thử nghiệm ngắn và sự ảnh hưởng của các phương pháp trị liệu khác. Bài viết cũng đưa ra các đề xuất cải thiện phần mềm và phương pháp nghiên cứu để mang lại hiệu quả tốt hơn trong can thiệp trẻ ADHD thông qua VR.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,787
Trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội và thách thức mới trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là đối với việc đào tạo giáo viên Giáo dục công dân tại các trường đại học Sư phạm ở Việt Nam. Trí tuệ nhân tạo không chỉ hỗ trợ giáo viên trong việc cá nhân hóa học tập, tự động hóa các nhiệm vụ hành chính và phát triển nội dung sáng tạo mà còn cung cấp các công cụ đánh giá và phân tích hiệu quả học tập. Tuy nhiên, việc áp dụng trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra nhiều thách thức như yêu cầu về kĩ năng công nghệ, sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy và vấn đề bảo mật dữ liệu. Bài viết phân tích các cơ hội và thách thức mà trí tuệ nhân tạo mang lại, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Giáo dục công dân trong bối cảnh hiện nay.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,369
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 806
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,837
Việc đánh giá hiệu quả công việc của giảng viên là một nhiệm vụ cốt lõi nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như công tác quản lí nhân sự trong môi trường đại học. Nghiên cứu này dựa trên việc phân tích tổng quan các mô hình KPIs hiện có trong lĩnh vực đánh giá giảng viên, kết hợp với các nguyên lí quản lí giáo dục, quy định pháp lí hiện hành và chiến lược phát triển của Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội theo từng giai đoạn. Từ đó, nghiên cứu đề xuất Bộ chỉ số đánh giá mức độ thực hiện công việc (KPIs) dành riêng cho giảng viên Chương trình đào tạo ngành Giáo dục tiểu học thuộc Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội. Bộ tiêu chí được kì vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lí giảng viên trong trường.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,685
Hình học trực quan là nội dung chính của mạch kiến thức hình học và đo lường trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nội dung hình học trực quan ngầm ẩn nhiều kiến thức có thể vận dụng vào tổ chức các hoạt động dạy học trong giáo dục STEM. Sản phẩm “Thiết kế căn phòng mơ ước” thường có dạng hình học trực quan như hình hộp chữ nhật hay hình lập phương, tích hợp kiến thức nhiều lĩnh vực của STEM. Mục tiêu của bài báo là bàn về cách thiết kế sản phẩm dạy học theo hướng tích hợp Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học. Phương pháp được đề cập trong bài báo là phương pháp nghiên cứu lí luận và phương pháp thực hành các nội dung lí luận trong thực tiễn. Kết quả mới của bài báo là đưa ra được cách dạy học thiết kế một sản phẩm STEM cụ thể là “căn phòng mơ ước” có dạng hình chữ nhật hay hình lập phương. Bài báo góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, tạo ra tư liệu vận dụng hình học trực quan, giúp những nhà giáo dục và lãnh đạo có cơ sở khoa học về dạy học STEM.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 920
Công nghệ thông tin được áp dụng ngày càng nhiều trong giáo dục do hiệu quả mang lại cho người học nguồn học liệu phong phú và cho phép giáo viên áp dụng đa dạng các phương pháp dạy học. Trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ, công nghệ thông tin rất hữu ích qua việc tạo điều kiện cho người học tiếp xúc với ngôn ngữ thực tế là điều rất cần thiết trong môi trường tiếng Anh chỉ là ngoại ngữ. Đã có rất nhiều các nghiên cứu về thái độ, nhận thức đối với vai trò của công nghệ trong việc học tiếng Anh, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu vấn đề tương tự theo cách nhìn của người học. Đối tượng nghiên cứu gồm 52 học viên tại một cơ sở tiếng Anh ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Dữ liệu thu thập được thông qua bảng hỏi và phỏng vấn. Kết quả được trình bày và thảo luận theo các khía cạnh sau: 1) Các công cụ công nghệ được người học ưa chuộng, 2) Thái độ của người học, 3) Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người học về ứng dụng công nghệ thông tin vào môn nghe tiếng Anh. Kết quả gợi ra những đề xuất nhằm tăng cường thái độ tích cực và mức độ đón nhận của người học với công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học tiếng Anh.
Số: /2025
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,182
Bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục đem tới nhiều cơ hội và cũng đặt ra những yêu cầu rất cơ bản về nguồn nhân lực, đối với chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra của các trường đại học, cụ thể đề cập ở đây là đào tạo giáo viên. Bài báo nghiên cứu tổng quan cơ sở lí luận về năng lực dạy học, năng lực dạy học kết hợp, lấy cơ sở từ các nghiên cứu về khung năng lực số, năng lực dạy học trong chương trình đào tạo của các trường đại học Sư phạm, khoa Sư phạm, trường đại học có đào tạo ngành Sư phạm. Bài báo này, với phương pháp chính là tổng quan lí luận, trả lời hai câu hỏi nghiên cứu: 1) Năng lực dạy học kết hợp dựa trên những căn cứ khoa học nào? 2) Bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục đặt ra yêu cầu như thế nào với năng lực này của sinh viên sư phạm. Nghiên cứu tổng quan này đặt nền tảng cho các hướng nghiên cứu cụ thể tiếp theo trong giáo dục đại học nói chung, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dạy học (đào tạo giáo viên) nói riêng, xuất phát từ phần còn bỏ ngỏ về năng lực dạy học số, năng lực dạy học kết hợp của sinh viên Sư phạm.

