Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 932

Học tập tự chủ của sinh viên là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Đội ngũ cố vấn học tập đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên, từ đó cải thiện hiệu quả học tập và rèn luyện. Để phát triển đội ngũ cố vấn học tập, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng bao gồm chủ thể quản lí, đối tượng quản lí và môi trường làm việc là rất cần thiết. Khi các yếu tố này được nhận diện rõ ràng, nhà quản lí có thể triển khai các biện pháp hiệu quả để tối ưu hóa vai trò của cố vấn học tập trong việc hỗ trợ sinh viên phát triển năng lực học tập tự chủ. Bài viết trình bày khái niệm về học tập tự chủ, cố vấn học tập, phát triển đội ngũ cố vấn học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ này trong việc hỗ trợ sinh viên học tập tự chủ.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,543
Phát triển năng lực số có ý nghĩa quan trọng trong đào tạo giáo viên ở các cơ sở giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá toàn diện về cách thức phát triển năng lực số cho sinh viên đại học ngành Giáo dục tiểu học hiện nay. Bài viết sử dụng quy trình PRISMA và tìm kiếm, phân tích 34 ấn phẩm về cách thức phát triển năng lực số xuất hiện trên Scopus, Web of Science, Google Scholar từ năm 2014 đến năm 2024. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản để trích xuất từ khóa, chỉ ra bốn phương thức chính phát triển năng lực số cho sinh viên đại học ngành Giáo dục tiểu học, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. Kết quả nghiên cứu này sẽ là tư liệu giúp các nhà nghiên cứu cũng như các cơ sở giáo dục đại học có những định hướng phù hợp trong đào tạo phát triển năng lực số cho sinh viên đại học nói chung và sinh viên đại học ngành Giáo dục tiểu học nói riêng.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 692

Đối với nhiều học sinh, sinh viên, tư duy là một thứ vô hình nên giáo viên cần giúp cho suy nghĩ của các em trở nên hữu hình để các em nhận biết là mình đang học và suy nghĩ như thế nào. Thông qua thói quen tư duy hữu hình, học sinh, sinh viên có thể diễn đạt theo cách các em suy nghĩ, có sự liên hệ sâu hơn với các ý tưởng của mình và học sâu hơn. Điều đáng chú ý là tất cả học sinh, sinh viên đều có thể tham gia đóng góp theo cách của riêng mình để tạo lớp học sáng tạo hơn, hợp tác hơn, hiệu quả hơn. Bài viết giới thiệu, phân tích một số nguyên tắc của việc đưa thói quen tư duy vào trường học, lớp học sau khi trình bày chọn lọc một số khái niệm quan trọng và giới thiệu về dự án Project Zero, dự án nghiên cứu tại Đại học Harvard với bộ thói quen tư duy. Đồng thời, bài viết đưa ra một số lí do của việc đưa thói quen tư duy vào giờ học ngôn ngữ nói chung và giờ học kĩ năng nói nói riêng cũng như giới thiệu một số thói quen tư duy hữu hình tiêu biểu có thể ứng dụng vào việc phát triển kĩ năng nói tiếng Anh cho học sinh, sinh viên.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 719
Trước yêu cầu trách nhiệm giải trình chất lượng ngày càng cao, hoạt động bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo được đặc biệt quan tâm. Bài báo đề xuất chu trình “(CCr-EEr)AArPPrDDr” làm “lõi” kết hợp với mô hình CIPO, phân tích SWOT, 5W1H và 3M1F1E để bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo trình độ đại học và sau đại học theo các tiêu chí và chỉ báo chất lượng, gồm 03 bước: 1) Chỉ đạo thiết lập định hướng phát triển đào tạo (Xác định các ngành/nghề đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và chuẩn đầu ra cũng như chương trình đào tạo tương ứng; Chính sách chất lượng; Mục tiêu chung) theo định kì 3-5 năm; 2) Tổ chức lập kế hoạch bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo (Chỉ tiêu trung hạn/kết quả đầu ra và cụ thể/đầu ra, giải pháp và nguồn lực…); 3) Tổ chức thực hiện (Thiết lập và vận hành hệ thống thường xuyên kiểm soát, định kì đánh giá chất lượng theo tiến trình “Đầu vào - Hoạt động đào tạo - Đầu ra” và đánh giá kết quả đáp ứng nhu cầu xã hội sau tốt nghiệp, gắn với phản hồi cải tiến chất lượng. Kết quả nghiên cứu góp phần phát triển lí luận, giúp các cơ sở giáo dục có thêm lựa chọn để triển khai hoạt động bảo đảm chất lượng các chương trình đào tạo trong thực tiễn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 976

Theo văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần tăng cường tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại vào các môn học và hoạt động giáo dục. Việc xây dựng các nội dung dạy học theo hướng tích hợp liên môn sẽ đảm bảo tính logic và tránh bị trùng lặp, phát huy tối đa hiệu quả nội dung giáo dục. Nhằm đánh giá thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại cho học sinh lớp 5 tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thuận An, Bình Dương, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 191 giáo viên tiểu học để phân tích thực trạng. Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục phòng tránh xâm hại trong các môn học và hoạt động giáo dục. Trong quá trình giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại, giáo viên đã có sự chủ động tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện tích hợp ở các mức độ nhất định. Tuy nhiên, giáo viên còn gặp khó khăn trong việc thực hiện tích hợp liên môn giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại và việc triển khai chưa đồng bộ. Đây là cơ sở thực tiễn để đưa ra biện pháp hỗ trợ giáo viên thực hiện hợp liên môn khi giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại trong dạy học các môn học/hoạt động giáo dục.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 767
Nghiên cứu mối liên hệ giữa khu vực tuyển sinh, giới tính, kết quả học tập cấp trung học phổ thông với kết quả bài thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội từ 67.908 thí sinh. Kết quả cho thấy, có sự tương đồng kết quả bài thi đánh giá năng lực giữa học sinh khu vực thành thị (KV3) và nông thôn (KV2 NT) nhưng khác biệt với học sinh khu vực miền núi (KV1). Điểm trung bình bài thi đánh giá năng lực thay đổi theo trật tự KV2 NT ≈ KV2 ≈ KV3 > KV1. Trong tất cả các trường hợp, tỉ lệ phần trăm học sinh nam có điểm trung bình chung cao hơn học sinh nữ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, điểm thi đánh giá năng lực có tương quan chặt chẽ với điểm học tập lớp 11 của học sinh ở tất cả các khu vực. Hệ số tương quan Pearson giữa điểm thi đánh giá năng lực và điểm học bạ giảm dần từ KV2 NT, KV3 đến KV1.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,089
Năm học 2023-2024 là năm học Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 triển khai ở lớp 4, lớp 8 và lớp 11. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu về tình hình triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Sách giáo khoa lớp 8 ở tất cả các môn học trên địa bàn 12 tỉnh đại diện cho các vùng miền trong cả nước. Bài viết trình bày một phần kết quả thu được từ nghiên cứu này, trong đó đi sâu mô tả thực trạng triển khai dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 8. Trên cơ sở những phát hiện ban đầu, bài viết phân tích thực trạng triển khai môn Lịch sử và Địa lí lớp 8 và đưa ra một số khuyến nghị hữu ích cho việc tổ chức dạy và học môn Lịch sử và Địa lí cũng như quá trình triển khai Chương trình được hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,049
Blended Learning là mô hình học tập phổ biến được áp dụng tại nhiều quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Áp dụng mô hình này trong dạy học được coi là giải pháp tối ưu cho vấn đề hạn chế về không gian và thời gian. Trong dạy học Tin học, năng lực dạy học STEM là một trong những năng lực mới, cần phát triển cho sinh viên ngành Sư phạm Tin học. Trong nghiên cứu này, dựa trên khung năng lực dạy học STEM, nhóm tác giả đề xuất quy trình phát triển năng lực dạy học STEM của sinh viên ngành Sư phạm Tin học thông qua việc vận dụng mô hình Blended Learning, từ đó xây dựng kế hoạch bài dạy để tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên, góp phần phát triển năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Sư phạm Tin học. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn đào tạo giáo viên phổ thông, sinh viên Sư phạm của các trường đại học Sư phạm trên toàn quốc, góp phần phát triển năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Sư phạm Tin học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,573
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực đang dần được chú trọng và ứng dụng rộng rãi ở các trường phổ thông. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã đề cao việc phát triển năng lực toàn diện cho học sinh, không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn hướng đến khả năng vận dụng thực tế. Môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lớp 11 đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị cho học sinh những kiến thức nền tảng về Kinh tế và Pháp luật. Do đó, việc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực trong môn học này là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn gặp nhiều thách thức. Bài viết phân tích thực trạng kiểm tra, đánh giá năng lực trong dạy học môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 11, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.