Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 619

Trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, tư duy tính toán là năng lực quan trọng trong giáo dục STEM, giúp học sinh giải quyết vấn đề và thích ứng với thị trường lao động tương lai. Nghiên cứu này tổng quan tài liệu, phân tích các nghiên cứu quốc tế và quan sát thực tiễn tại 05 trường trung học cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh để đánh giá biểu hiện năng lực tư duy tính toán trong giáo dục STEM Robotics. Dựa trên các tiêu chí quốc tế và dữ liệu thực tiễn, nghiên cứu đề xuất một khung năng lực tư duy tính toán gồm 06 thành tố chính (nhận dạng mẫu, phân tách vấn đề, thiết lập thuật toán, trừu tượng hóa, khái quát hóa, gỡ lỗi) với 25 tiêu chí cụ thể. Khung năng lực này cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết kế chương trình STEM Robotics phù hợp với học sinh Việt Nam, đồng thời mở rộng ứng dụng tư duy tính toán trong giáo dục STEM. Kết quả nghiên cứu không chỉ định hướng phát triển chương trình giảng dạy mà còn tạo nền tảng cho nghiên cứu thực nghiệm và chuẩn hóa định lượng về năng lực tư duy tính toán trong giáo dục Việt Nam.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 604
Bài viết khai thác việc vận dụng quy trình tư duy thiết kế (Design Thinking) vào giảng dạy chuyên đề Địa lí lớp 12. Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thực nghiệm sư phạm thông thiết kế bài kiểm tra sau tác động trên một nhóm học sinh được chọn ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người học không chỉ nâng cao các năng lực Địa lí và phẩm chất cá nhân mà còn phát triển khả năng chuyển hóa kiến thức thành các sản phẩm có giá trị thực tiễn. Đây là một trong những nghiên cứu khởi đầu cho việc đưa tư duy thiết kế vào dạy học Địa lí - một hướng tiếp cận mới nhằm đổi mới phương pháp giáo dục trong bối cảnh hiện đại. Bằng cách đó, nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lí luận cho lĩnh vực giáo dục Địa lí mà còn cung cấp một mô hình tổ chức dạy học cụ thể, khả thi, hỗ trợ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới từ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, từ đó góp phần xây dựng môi trường học tập sáng tạo và nhân văn.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 489
Hiện tượng “Zombie học đường” trong bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay được nghiên cứu này thể hiện qua các biểu hiện và thang đo được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó và được cụ thể hóa qua nhiều lần kiểm tra bằng nghiên cứu định tính. Từ đó, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được thực hiện với dữ liệu thu thập được từ khảo sát 999 sinh viên đại học để kiểm tra ảnh hưởng của hiện tượng “Zombie học đường” đến động lực và kết quả học tập. Kết quả cho thấy sự tồn tại của “Zombie học đường” ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến động lực học tập, từ đó làm suy giảm kết quả học tập. Các biểu hiện thiếu sự tự chủ và thiếu sự tham gia của người khác có ảnh hưởng mạnh nhất tới động lực học tập của người học và động lực học tập có ảnh hưởng thuận chiều tới kết quả học tập. Từ đó, một số khuyến nghị giải pháp đã được đề xuất nhằm xây dựng môi trường học tập tích cực, tăng cường sự tham gia, giảm thiểu tình trạng “Zombie học đường”. Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi sinh viên đại học tại Việt Nam, mở ra cơ hội cho các nghiên cứu tương tự ở các bối cảnh khác.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 424

Nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích và cải tiến công tác quản lí đào tạo thạc sĩ ngành Y theo tiếp cận đảm bảo chất lượng, trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình lấy người học làm trung tâm và quản lí theo chuẩn đầu ra. Nghiên cứu giải quyết khoảng trống thực tiễn trong việc áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ (QA) một cách bài bản tại các chương trình đào tạo sau đại học, đặc biệt trong lĩnh vực Y học. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích tài liệu, khảo sát định lượng trên 205 đối tượng (cán bộ quản lí, giảng viên, học viên, cựu học viên) và phỏng vấn sâu, nhằm đảm bảo cái nhìn toàn diện và có chiều sâu. Kết quả cho thấy, một số cải tiến bước đầu trong quản lí đào tạo thạc sĩ đã được thực hiện nhưng vẫn tồn tại các hạn chế như: Thiếu chuẩn đầu ra rõ ràng, giảng dạy truyền thống, đánh giá chưa phản ánh đúng năng lực thực hành, và hệ thống QA nội bộ chưa đầy đủ. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 7 giải pháp quản lí theo chu trình PDCA và chuẩn quốc tế (WFME, AUN-QA, ISO 9001). Thử nghiệm một trong các giải pháp (tập huấn QA cho cán bộ, giảng viên) bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực, khẳng định tính khả thi của hướng tiếp cận.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 479
Bài viết trình bày những phát hiện chính trong khảo sát đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập dành cho người khuyết tật tại Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tại 51 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập trên cả nước. Nội dung khảo sát đánh giá thực trạng bao gồm: 1) Về tên gọi và các cấp quản lí các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 2) Cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 3) Vị trí việc làm; 4) Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 5) Các dạng khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 6) Các hoạt động và chương trình giáo dục đang được sử dụng tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt. Kết quả khảo sát cho thấy chưa có sự thống nhất về tổ chức và hoạt động giữa các cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập dành cho người khuyết tật tại các địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng các nội dung trong văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của trường, lớp dành cho người khuyết tật; đồng thời, để các cơ sở giáo dục chuyên biệt dành cho người khuyết tật thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đối với người khuyết tật.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 621
Nghiên cứu của chúng tôi so sánh phản hồi của ChatGPT với phản hồi của giáo viên trong sửa bài viết tiếng Pháp cấp độ B1+ cho 47 sinh viên đại học. Dữ liệu phân tích là bảng hỏi và các báo cáo chiêm nghiệm của sinh viên so sánh phản hồi của ChatGPT và của giáo viên về số lượng và chất lượng phản hồi, khả năng động viên khích lệ, các tiêu chí chấm bài viết, độ dễ hiểu, tính hữu dụng. Kết quả cho thấy, điểm chấm bài viết của ChatGPT và của giáo viên khá tương đương. Phản hồi của giáo viên được sinh viên đánh giá cao hơn phản hồi của ChatGPT ở hầu hết mọi phương diện, tuy nhiên ChatGPT nhặt được nhiều lỗi hơn và đưa ra nhiều đề xuất chữa lỗi diễn đạt tốt. 51,06% sinh viên thích giáo viên nhận xét hơn, 48,94% thích kết hợp cả hai phương thức phản hồi. Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên về ứng dụng ChatGPT trong giảng dạy tiếng Pháp tại Việt Nam.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 760
Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá mức độ đạt được về năng lực dạy học tích hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững của sinh viên ngành Sư phạm Sinh học tại một số trường đại học ở Việt Nam. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dưới dạng Google form được sử dụng để khảo sát 151 sinh viên năm thứ tư ngành Sư phạm Sinh học tại 7 trường đại học sư phạm của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hạn chế ở một số tiêu chí và chỉ số của năng lực này như: nhận thức về các lĩnh vực liên quan đến ESD, mối quan hệ giữa kiến thức môn Sinh học và các nội dung ESD; kĩ năng xác định chủ đề tích hợp ESD gắn với bối cảnh địa phương, mối quan hệ giữa kiến thức môn Sinh học và các nội dung ESD trong chủ đề tích hợp, xây dựng và duy trì môi trường học tập liên quan đến các vấn đề phát triển bền vững; đánh giá, cung cấp những phản hồi kết quả học tập của học sinh trong dạy học tích hợp ESD; khả năng kết nối, tương tác và đóng góp với đồng nghiệp, phụ huynh hay cộng đồng trong quá trình dạy học tích hợp ESD. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lí giáo dục, giảng viên và các bên liên quan trong việc nâng cao chất lượng đào tạo năng lực dạy học tích hợp nói chung, tích hợp ESD nói riêng cho giáo viên môn Sinh học tại các trường đại học hiện nay.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 443
Bồi dưỡng thường xuyên là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí đang làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non. Nghiên cứu đã thống kê, phân tích số liệu kết quả tham gia bồi thường xuyên của giáo viên, cán bộ quản lí trong cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Bài báo chỉ ra được những vấn đề thực tiễn của công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục mầm non hiện nay. Từ đó có các giải pháp, định hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, cán bộ quản lí trong cơ sở giáo dục mầm non được tốt hơn.