Tìm kiếm
Kết quả tìm kiếm cho to Là : 2464 Kết quả
: 16,Tháng 6 2025
In the 2018 Vietnamese Literature curriculum, the narrator in narrative texts is a key component of reading comprehension instruction and is consistently addressed from Grade 6 through Grade 12. According to narratology theory, the narrator is a fictional construct within the artistic world of a literary work, playing a pivotal role in the narrative technique of storytelling. The fundamental elements of the narrator include narrative point of view, focalization, and narrative voice. Although theoretical perspectives on the narrator remain diverse and at times contested, the 2018 curriculum and textbooks have selected the most appropriate concepts for learners to support effective instruction. Using both theoretical and practical approaches, this article offers a number of discussions and pedagogical suggestions for teaching the concept of the narrator in narrative texts, structured around the three fundamental elements: the person, the narrator’s words and the narrator’s point of view.
: 16,Tháng 6 2025
This article analyzes the transition in primary student assessment policy in Vietnam from 2005 to 2020, with a focus on the relationship between policy content and teacher autonomy. Using a document analysis method and a diachronic comparison of four key legal documents (Decision 30/2005, and Circulars 32/2009, 30/2014, and 27/2020), the study is grounded in decentralization theory and assessment for learning frameworks. The findings reveal a marked shift from test-based assessment models to a more comprehensive and developmental approach, emphasizing students’ competencies and character qualities. Concurrently, teacher autonomy in choosing assessment methods, tools, and feedback has been considerably expanded. However, implementation faces challenges, including uneven teacher capacity, administrative burdens, and limited societal consensus on non-numerical assessment practices. The study highlights the need for coherent policy support to strengthen professional capacity, reduce bureaucratic overload, and promote meaningful assessment practices in primary education. It proposes policy recommendations to foster a more enabling environment for teacher autonomy and ensure alignment between assessment reform and classroom realities.
: 16,Tháng 6 2025
Bài viết trình bày những phát hiện chính trong khảo sát đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập dành cho người khuyết tật tại Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tại 51 cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập trên cả nước. Nội dung khảo sát đánh giá thực trạng bao gồm: 1) Về tên gọi và các cấp quản lí các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 2) Cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 3) Vị trí việc làm; 4) Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 5) Các dạng khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt; 6) Các hoạt động và chương trình giáo dục đang được sử dụng tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt. Kết quả khảo sát cho thấy chưa có sự thống nhất về tổ chức và hoạt động giữa các cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập dành cho người khuyết tật tại các địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng các nội dung trong văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của trường, lớp dành cho người khuyết tật; đồng thời, để các cơ sở giáo dục chuyên biệt dành cho người khuyết tật thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đối với người khuyết tật.
: 16,Tháng 6 2025
This study presents the theoretical basis and practical implementation of the management of the Business Administration training program at Binh Duong University of Economics and Technology, according to the AUN-QA approach. The research surveyed 250 participants including administrators, lecturers, students, and alumni. The results indicate that the university has largely implemented the eight AUN-QA standards and has achieved certain successes. However, some limitations remain in areas such as learning outcomes development, curriculum content, teaching and learning processes, assessment of learning outcomes, facilities, and equipment. Accordingly, the study proposes eight groups of valuable solutions to enhance the quality of program management.
: 16,Tháng 6 2025
This study investigates the factors influencing Englishmajored students’ willingness to communicate (WTC) in English classes at the Faculty of English, Thuongmai University. The key factors examined include: 1) Teacher support, 2) Personality traits, 3) Self-confidence, 4) Learning environment, 5) Language proficiency, 6) Motivation, 7) Communication topics. Using a simple random sampling method, data were collected via questionnaires and analyzed through hypothesis testing, factor analysis, and regression techniques. The findings indicate that the learning environment exerts the most significant influence on students’ WTC, followed by communication topics and motivation. Conversely, language proficiency was found to have a negative correlation with students’ willingness to communicate. Based on these results, the study proposes several strategies for both students and teachers to foster greater student engagement in English communication, thereby enhancing second language acquisition outcomes.
: 16,Tháng 6 2025
Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên Khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Thương Mại, gồm: 1) Sự hỗ trợ của giáo viên, 2) Tính cách, 3) Sự tự tin, 4) Môi trường học, 5) Kiến thức, 6) Động lực, 7) Chủ đề giao tiếp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, thu thập dữ liệu thông qua khảo sát, xử lí và phân tích dữ liệu thông qua phương pháp kiểm định mô hình giả thuyết nghiên cứu, phân tích nhân tố và phân tích hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường học là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên, theo sau lần lượt là hai yếu tố: Chủ đề giao tiếp và động lực. Ngược lại, yếu tố kiến thức tác động ngược chiều đến mức độ sẵn sàng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học của sinh viên. Dựa trên kết quả này, tác giả đưa ra một số đề xuất cho sinh viên và giáo viên nhằm giúp cải thiện mức độ sẵn sàng giao tiếp của sinh viên trong lớp học tiếng Anh, góp phần giúp các em thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiệu quả hơn.
: 16,Tháng 6 2025
In the context of fundamental and comprehensive reforms in general education in Vietnam, experiential activities, including career-oriented ones, have become compulsory components of the national curriculum, contributing to the development of students’ core qualities and competencies. This shift presents an urgent challenge for teacher education institutions to equip preservice primary teachers with the competence in organizing experiential learning activities from the early stages of their training. In response to this demand, the present study was conducted to identify the factors influencing the competence in organizing experiential activities among students at Hung Vuong University. Survey data were collected from 239 students, and exploratory factor analysis (EFA) was applied to determine the key influencing factors. The results indicate three major factors impacting students’ experiential activity organizing competence: (1) students’ proactivity and engagement, (2) the learning environment and support conditions, and (3) lecturers’ guidance and support. Based on the findings, the paper proposes practical solutions to foster student proactivity, improve the quality of the learning environment, and enhance lecturer support in the training process. These recommendations aim to improve students’ readiness and capability to organize experiential activities effectively in future classroom settings. This study offers valuable insights for teacher education programs, curriculum developers, and educational policymakers aiming to strengthen experiential education and prepare future teachers to meet the demands of ongoing educational reform.
: 16,Tháng 6 2025
Trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông tại Việt Nam, hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo giáo viên trong việc trang bị cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên Trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát từ 239 sinh viên và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố ảnh hưởng chính. Kết quả cho thấy có ba nhân tố chính tác động đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên: 1) Tính chủ động và tích cực của sinh viên, 2) Môi trường học tập và điều kiện hỗ trợ, 3) Sự hướng dẫn và hỗ trợ của giảng viên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tính chủ động của sinh viên, cải thiện chất lượng môi trường học tập và tăng cường vai trò hỗ trợ của giảng viên trong quá trình đào tạo. Những khuyến nghị này nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng và năng lực của sinh viên trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả trong lớp học tương lai. Nghiên cứu mang đến những gợi ý giá trị cho các chương trình đào tạo giáo viên, người xây dựng chương trình và các nhà hoạch định chính sách giáo dục đang hướng tới việc tăng cường giáo dục trải nghiệm và chuẩn bị đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
: 16,Tháng 6 2025
In the field of quality assurance for educational programs, assessing learning outcomes to measure the extent to which students achieve graduate attributes plays a crucial role in helping higher education institutions identify and improve program quality. This is a core requirement in educational quality accreditation standards, both nationally and internationally. However, in the context of higher education in Vietnam, the implementation of assessment activities to measure students’ achievement of graduate attributes remains relatively new and faces many challenges. This paper employs a document analysis method to summarize and compare the requirements for assessment activities aimed at measuring the achievement of learning outcomes according to various accreditation standards, both within Vietnam and internationally. It also reviews studies addressing the challenges faced by Vietnamese higher education institutions in implementing these assessments. The paper aims to contribute to expanding the understanding and theoretical foundations of assessing learning outcomes to measure students’ achievement of graduate attributes in undergraduate programs.
: 16,Tháng 6 2025
Trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo, hoạt động đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra đóng vai trò thiết yếu, giúp các cơ sở giáo dục đại học xác định và cải tiến chất lượng chương trình. Đây là yêu cầu cốt lõi trong các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, cả trong nước lẫn quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam, việc triển khai hoạt động đánh giá để đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra vẫn được xem là hoạt động mới và có nhiều thách thức trong việc thực hiện. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để tóm tắt, so sánh các yêu cầu về hoạt động đánh giá để đo lường mức độ đạt chuẩn đầu ra của một số bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo trong và ngoài nước, hệ thống một số nghiên cứu có đề cập đến thách thức của việc thực hiện hoạt động này trên thực tế đối với các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Bài viết góp phần mở rộng thêm hiểu biết lí luận trong lĩnh vực đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường mức độ người học đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo trình độ đại học.
: 16,Tháng 6 2025
Hiện tượng “Zombie học đường” trong bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay được nghiên cứu này thể hiện qua các biểu hiện và thang đo được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó và được cụ thể hóa qua nhiều lần kiểm tra bằng nghiên cứu định tính. Từ đó, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được thực hiện với dữ liệu thu thập được từ khảo sát 999 sinh viên đại học để kiểm tra ảnh hưởng của hiện tượng “Zombie học đường” đến động lực và kết quả học tập. Kết quả cho thấy sự tồn tại của “Zombie học đường” ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến động lực học tập, từ đó làm suy giảm kết quả học tập. Các biểu hiện thiếu sự tự chủ và thiếu sự tham gia của người khác có ảnh hưởng mạnh nhất tới động lực học tập của người học và động lực học tập có ảnh hưởng thuận chiều tới kết quả học tập. Từ đó, một số khuyến nghị giải pháp đã được đề xuất nhằm xây dựng môi trường học tập tích cực, tăng cường sự tham gia, giảm thiểu tình trạng “Zombie học đường”. Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi sinh viên đại học tại Việt Nam, mở ra cơ hội cho các nghiên cứu tương tự ở các bối cảnh khác.
: 16,Tháng 6 2025
Cảm xúc đóng vai trò rất quan trọng trong lớp học, không chỉ ảnh hưởng đến sự hạnh phúc và chất lượng giảng dạy của giáo viên mà còn tác động đến sự tham gia cũng như kết quả học tập của học sinh và môi trường giáo dục tổng thể. Mặc dù cảm xúc của giáo viên là một khía cạnh thiết yếu nhưng cho tới thời điểm hiện tại có rất ít nghiên cứu tập trung vào chủ đề cảm xúc của giáo viên trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam. Bài tổng quan tìm hiểu các nghiên cứu xuất bản gần đây về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh. Cụ thể, bài viết trình bày các khái niệm về cảm xúc và cảm xúc của giáo viên; các hướng tiếp cận nghiên cứu; các khung lí thuyết phổ biến (bao gồm: Hệ thống sinh thái, Địa lí cảm xúc, Cảm xúc thành tích, Đánh giá và Tiếp cận phê phán); các yếu tố tác động đến cảm xúc của giáo viên (bao gồm các yếu tố cá nhân, ngữ cảnh và năng lực cảm xúc); các hướng nghiên cứu phổ biến; đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai. Bài viết này cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về cảm xúc của giáo viên tiếng Anh ở Việt Nam.
: 16,Tháng 6 2025
This article explores the application of the design thinking process in teaching Grade 12 Geography topics. The research was conducted using a pedagogical experimental method through the design of post-intervention assessment tools, applied to a randomly selected group of students. The findings show that learners not only improve their geographical competencies and personal qualities but also develop the ability to transform knowledge into products of practical value. This study serves as an initial attempt to integrate design thinking into Geography instruction — a new approach aimed at innovating teaching methods in the modern educational context. Accordingly, the study contributes to both the theoretical foundation of Geography education and offers a concrete, feasible instructional model that helps teachers meet the demands of the 2018 General Education Program, thereby fostering a creative and humanistic learning environment.
: 16,Tháng 6 2025
Bài viết khai thác việc vận dụng quy trình tư duy thiết kế (Design Thinking) vào giảng dạy chuyên đề Địa lí lớp 12. Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thực nghiệm sư phạm thông thiết kế bài kiểm tra sau tác động trên một nhóm học sinh được chọn ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người học không chỉ nâng cao các năng lực Địa lí và phẩm chất cá nhân mà còn phát triển khả năng chuyển hóa kiến thức thành các sản phẩm có giá trị thực tiễn. Đây là một trong những nghiên cứu khởi đầu cho việc đưa tư duy thiết kế vào dạy học Địa lí - một hướng tiếp cận mới nhằm đổi mới phương pháp giáo dục trong bối cảnh hiện đại. Bằng cách đó, nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lí luận cho lĩnh vực giáo dục Địa lí mà còn cung cấp một mô hình tổ chức dạy học cụ thể, khả thi, hỗ trợ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới từ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, từ đó góp phần xây dựng môi trường học tập sáng tạo và nhân văn.
: 16,Tháng 6 2025
Công nghệ thông tin ngày càng được giáo viên quan tâm và ứng dụng trong dạy học, tuy nhiên việc sử dụng vẫn còn nhiều thách thức. Bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán tại một số trường trung học phổ thông thuộc một số tỉnh khu vực phía Bắc. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số giáo viên có kĩ năng công nghệ thông tin ở mức cơ bản, nhưng khả năng sử dụng các phần mềm chuyên biệt cho môn Toán còn hạn chế. Phần mềm trình chiếu được sử dụng phổ biến, trong khi các phần mềm hỗ trợ dạy học môn toán có mức độ sử dụng thấp hơn. Các yếu tố như giới tính, kinh nghiệm công tác ảnh hưởng đến mức độ sử dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về mức độ sử dụng công nghệ thông tin giữa giáo viên ở các các khu vực thành thị, nông thôn và vùng núi. Các yếu tố về con người, nguồn lực như thái độ và kĩ năng công nghệ thông tin của giáo viên, sự hỗ trợ và khả năng tiếp cận công nghệ thông tin có ảnh hưởng tới mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, góp phần cải thiện chất lượng giảng dạy môn Toán trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
: 16,Tháng 6 2025
This study aims to develop and validate a measurement tool for assessing STEM activities among lower secondary school students in Vietnam. The four-factor structure of STEM, encompassing Science, Technology, Engineering, and Mathematics, was identified. Data were collected from a sample of 656 teachers and students from grades 6 to 9. Exploratory and confirmatory factor analyses confirmed the initial full model consisting of 40 items and proposed a refined version with 20 reallocated items, demonstrating good fit indices. The findings validated the factorial structure, reliability, and internal consistency of the scale for evaluating STEM activities at the lower secondary level, while also highlighting the need to redefine the concept of STEM activities in the digital era.

