Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 930
Trong bối cảnh công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay, ngành Công nghiệp kĩ thuật công trình xây dựng giữ một vai trò quan trọng. Điều này đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với ngành Giáo dục Kĩ thuật công trình xây dựng trong nhiệm vụ cung ứng cho xã hội nguồn lao động trình độ cao dồi dào. Nhằm góp phần đáp ứng các yêu cầu này, bài viết nghiên cứu các vấn đề lí luận cơ bản về quản lí hoạt động dạy học đại học ngành Kĩ thuật công trình xây dựng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lí hoạt động dạy học đại học ngành Kĩ thuật công trình xây dựng ngoài những nét chung giống với quản lí hoạt động dạy học đại học nói chung còn có những nét riêng tương ứng với các đặc thù của ngành học. Những nét riêng này là những vấn đề được bàn luận trong bài viết này.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,035
Đánh giá ngoài các chương trình đào tạo trình độ đại học theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đạt được những kết quả quan trọng, có ý nghĩa. Từ kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo trình độ đại học, bài viết đã đề xuất một số kiến nghị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam như đảm bảo nguyên tắc “tương thích có định hướng” trong xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, xây dựng các quy trình cơ bản để nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, xây dựng cơ chế thu thập và sử dụng thông tin phản hồi của các bên liên quan trong quá trình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,913
Vấn đề ngôn ngữ - giao tiếp là một trong những khiếm khuyết đặc trưng ở trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Bài viết trình bày các kĩ thuật giúp phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ theo sự dẫn dắt của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ tham gia giao tiếp, đợi trẻ tham gia hoặc giao tiếp, đáp lại hành vi của trẻ. Từ đó, ứng dụng các kĩ thuật này để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giao tiếp thông qua các hoạt động hàng ngày bằng một số minh họa giúp người đọc dễ hiểu và thực hiện được các kĩ thuật trên cho phù hợp với trẻ.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,169
Hiện nay, trong dư luận xã hội đang có những ý kiến khác nhau về thành công của Việt Nam trong phòng chống dịch bệnh và cũng có nhiều ý kiến về hệ lụy sẽ xảy ra cùng những dự đoán về tương lai thế giới sau khi đại dịch Covid 19 kết thúc. Bài báo trình bày kết quả khảo sát nhận thức của cộng đồng về các nhận định, đánh giá và dự đoán chủ yếu về các vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan đến đại dịch Covid 19. Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát để nhận diện về nhận thức chung của cộng đồng, tác giả dự báo một số xu hướng mới có thể gây ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,193
Với mục đích rèn luyện phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học ngành Y trong dạy học Xác suất Thống kê, bài viết đề xuất 2 quy trình sau: 1/ Quy trình thu thập, xử lí và phân tích số liệu trong nghiên cứu khoa học; 2/ Quy trình thiết kế hoạt động thực hành thu thập, xử lí và phân tích số liệu nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học ngành Y. Đồng thời, bài viết thiết kế một phiếu học tập để minh họa các hoạt động thực hành thu thập, xử lí và phân tích số liệu nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học ngành Y trong dạy học Xác suất Thống kê.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 944
Một trong những yếu tố giúp học sinh ứng phó với những biến đổi xã hội như đại dịch COVID-19 hiện nay là các kĩ năng để vượt qua khó khăn cả về tâm lí, học tập và các hoạt động trong cuộc sống. Đây cũng là điều mà thế giới đang chung tay thực hiện như một phần quan trọng trong quá trình đẩy lùi dịch bệnh và giáo dục học sinh trong giai đoạn đặc biệt này. Với lí do đó, chúng tôi tham khảo một số kinh nghiệm quốc tế giúp trẻ em ứng phó với đại dịch COVID-19 và đề xuất việc hình thành những kĩ năng cần thiết cho học sinh Việt Nam để vượt qua đại dịch này. Những kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy về kĩ năng nói chung, kĩ năng ứng phó với đại dịch nói riêng.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,391
Chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội là tổng hợp các giá trị, thể hiện sự thống nhất giữa số lượng, cơ cấu đội ngũ cùng với chất lượng của mỗi cán bộ, phản ánh mức độ, kết quả thực hiện cương vi, chức trách cùng với khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các trường đại học trong mỗi thời kì, giai đoạn cụ thể. Xây dựng được những tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay là vấn đề quan trọng, nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của công tác đoàn, phong trào thanh niên trong nhà trường. Bài viết góp phần xác định rõ đặc điểm của đội ngũ cán bộ Đoàn đồng thời đưa ra những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 2,858
Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của đất nước luôn là nhiệm vụ của nền giáo dục quốc gia. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02 tháng 9 năm 1945, giáo dục Việt Nam trải qua ba cuộc đổi mới lớn, với các cuộc cải cách quan trọng góp phần đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, đáp ứng nguồn cung nhân lực cho phát triển đất nước. Bài viết trình bày ba cuộc đổi mới giáo dục bao gồm: Đổi mới giáo dục lần thứ nhất (1945) và với ba cuộc cải cách 1950, 1956, 1979; Đổi mới giáo dục lần thứ hai (từ cuối năm 1986 đến những năm đầu thế kỉ XXI); Đổi mới giáo dục lần thứ ba (từ tháng 11 năm 2013) gắn liền cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Từ đó, đề cập các nhiệm vụ cho nền quốc học Việt Nam trong tình hình mới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,189
Từ xưa đến nay, người thầy luôn có một vị trí quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Người thầy giỏi không phải là người chỉ biết truyền đạt tri thức mà còn phải biết dẫn dắt, truyền cảm hứng cho học sinh, luôn coi trọng tri thức, ngoài việc dạy chữ còn phải dạy người. Đó là người truyền đạt kiến thức, là nhà giáo dục trong việc hình thành và giúp phát triển kĩ năng sống, đạo đức cho học sinh, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Hiện nay, trước yêu cầu của sự đổi mới khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế về giáo dục, đòi hỏi vai trò, vị trí, kiến thức, kĩ năng, thái độ của người thầy cần phải luôn đáp ứng trong nền giáo dục mới để đáp ứng theo sự phát triển. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo hướng phát triển năng lực ở các trường trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,194
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam. Để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kĩ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, đào tạo trình độ trung cấp cần có sự đổi mới về nội dung và nhất là phương pháp dạy học theo hướng tăng cường việc tìm hiểu, khám phá và tự kiến tạo nên kiến thức, kĩ năng qua vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống và nghề nghiệp. Bài viết đề cập tới dạy học theo thuyết kiến tạo, bản chất của dạy học theo thuyết kiến tạo, các phương pháp dạy học theo thuyết kiến tạo vận dụng các phương pháp dạy học theo thuyết kiến tạo vào dạy học môn Sáng tác mẫu trang phục để rèn luyện và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tại Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ thuật Nguyễn Hữu Cảnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng về kĩ năng giải quyết vấn đề của 33 học sinh lớp TKTT 17.1 (Vận dụng các phương pháp dạy học theo thuyết kiến tạo) và 35 học sinh của lớp TKTT 17.2 (Phương pháp thuyết trình và đàm thoại tái hiện) đã cho thấy, có từ 51,4% đến 68,6% học sinh của lớp TKTT 17.1 đạt mức tốt trong các tiêu chí đánh giá kĩ năng giải quyết vấn đề (phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề, thực hiện giải quyết vấn đề và đánh giá kết quả) so với không có hoặc chỉ từ 3% đến 9.1% học sinh của lớp TKTT 17.02 đạt mức tốt các tiêu chí này.

