Danh sách bài viết

Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 794
Kiểm tra nội bộ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trường mầm non. Nội dung công việc của trường mầm non rất đa dạng, đòi hỏi trách nhiệm cao và sự chu đáo, tỉ mỉ của từng cán bộ, giáo viên, nhân viên. Kiểm tra nội bộ giúp duy trì nền nếp làm việc trong trường mầm non, nếu được làm tốt, sẽ giúp hình thành cơ chế tự quản lí, tự điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, cá nhân. Bài viết giới thiệu kết quả nghiên cứu lí luận về kiểm tra nội bộ trường học và thực trạng công tác kiểm tra nội bộ tại các trường mầm non trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất biện pháp đổi mới quản lí công tác này nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các nhà trường hiện nay.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 796
Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là một trong những vấn đề được các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và mạng lưới khu vực và quốc tế đặc biệt quan tâm. Các tổ chức đảm bảo chất lượng trên toàn thế giới hợp tác bằng cách phát triển một mạng lưới ở cả cấp độ khu vực và quốc tế, đồng thời thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục thông qua các bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng theo cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Bài viết trình bày những khái niệm liên quan đến đảm bảo chất lượng, các mô hình đảm bảo chất lượng được sử dụng hiện nay trên thế giới và cách thức thực hiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thực hiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 736
Việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông tổng hợp và linh hoạt trong bối cảnh đẩy mạnh việc phân cấp, nâng cao trách nhiệm sẽ tạo động lực, sự chủ động và sáng tạo của trường học. Kết quả là các nhà quản lí và giáo viên nhà trường tự tin hơn trong việc xây dựng, thực hiện và đánh giá chương trình giảng dạy tại các trường học. Điều đó đòi hỏi các nhà quản lí trường học và giáo viên phải có năng lực cần thiết để quản lí chương trình giảng dạy ở trường một cách có hiệu quả và khả thi.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,041
Bằng phương pháp nghiên cứu lí luận, bài viết đề xuất cấu trúc năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh phổ thông, hình thành qua dạy học Hóa học. Theo tác giả bài viết, năng lực hợp tác giải quyết vấn đề là năng lực tổng hợp của yếu tố cá nhân và xã hội, thể hiện khả năng giải quyết vấn đề thông qua hợp tác nhóm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất cụ thể các tiêu chí dùng để đánh giá cũng như là cơ sở để thiết kế các hoạt động, nhiệm vụ học tập giúp phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh. Việc cụ thể hóa các tiêu chí ở 03 mức độ đánh giá khác nhau là cơ sở để tác giả đề xuất một số hình thức và công cụ đánh giá như: Phiếu tự đánh giá, hồ sơ học tập, bảng kiểm dùng quan sát hoạt động, Rubric đánh giá hoạt động sản phẩm nhóm.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,451
Dạy bài văn học sử như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất; làm sao cho học sinh hứng thú với giờ học văn học sử; làm thế nào để chuyển tải hết nội dung kiến thức trong bài văn học sử đến học sinh một cách nhẹ nhàng mà ấn tượng... là vấn đề đã và đang được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà giáo dục, người làm chương trình cũng như của cả giáo viên, học sinh. Vì vậy, đề xuất “Những biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực trong dạy học văn học sử” là việc làm thiết thực, hướng đến góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm năng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và giờ học văn học sử nói riêng.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 956
Kĩ năng nói tiếng Anh là một trong những kĩ năng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng nhất, đặc biệt là trong môi trường giao tiếp. Mặc dù trong nhiều năm, việc dạy nói đã bị đánh giá thấp và giáo viên dạy tiếng Anh vẫn tiếp tục dạy nói như một sự lặp lại của cuộc tập trận hoặc ghi nhớ các cuộc đối thoại. Thế giới ngày nay đòi hỏi mục tiêu dạy nói phải cải thiện kĩ năng giao tiếp của sinh viên, bởi vì chỉ bằng cách đó, sinh viên có thể thể hiện bản thân và học cách tuân theo các quy tắc văn hóa và xã hội phù hợp trong từng hoàn cảnh giao tiếp. Tuy nhiên, kĩ năng nói của sinh viên nói chung và của sinh viên các khối ngành kĩ thuật và kinh tế của Trường Đại học Điện lực nói riêng và các trường đại học nói chung còn rất nhiều hạn chế. Để góp phần khắc phục những nhược điểm này, trong phạm vi bài báo, tác giả tìm hiểu thực trạng của việc giảng dạy của giảng viên, việc học tập kĩ năng nói tiếng Anh của sinh viên và đưa ra một số gợi ý về phương pháp dạy học kĩ năng nói nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh trong nhà trường.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,662
Bài viết giới thiệu mô hình giáo dục đại học của một số nước tiêu biểu ở ba châu lục: Bắc Mĩ, Châu Âu và Châu Á. Các loại hình đào tạo đại học, số lượng sinh viên đăng kí học đại học, các hình thức tuyển sinh đại học và các chính sách, kiểm định chất lượng của các trường đại học được trình bày và phân tích. Cuối cùng sẽ là một số nhận xét được rút ra làm bài học kinh nghiệm cho giáo dục đại học ở Việt Nam.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 776
Chất lượng yếu của giáo dục đại học nước ta là ở chỗ chưa đáp ứng được mục tiêu về nhân lực trình độ cao trước yêu cầu hiện nay về phát triển kinh tế-xã hội. Nguyên nhân chính là ở chỗ các cơ sở giáo dục đại học thiếu những liên kết cần thiết với môi trường xung quanh, bao gồm các cơ quan tuyển dụng, các viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục và đào tạo khác. Để khắc phục tình trạng này, cần tạo dựng một hệ thống kết nối tốt hơn trên cơ sở phát huy quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Luật Giáo dục Đại học 2012 thiết lập hành lang pháp lí cho việc tạo dựng một hệ thống như vậy. Tuy nhiên, thực tế triển khai 5 năm qua chưa đem lại kết quả mong muốn. Đó là do có những bất cập trong tổ chức thực hiện tự chủ đại học ở nước ta, bao gồm sự phân kì về nhận thức, sự thiếu nhất quán về thể chế và sự thiếu vắng một cơ chế tổ chức thực hiện hữu hiệu.
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 657
Tiếp cận từ nhu cầu của Việt Nam về nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức, từ các căn cứ thực tiễn và đặc biệt là khả năng cống hiến thực tế của đội ngũ nữ trí thức ở độ tuổi trên 55, tác giả chứng minh rằng ở độ tuổi đó, nữ trí thức vẫn còn đủ sức khỏe để làm việc, đang ở độ tuổi chín muồi về bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ và kinh nghiệm chuyên môn, tự tạo được sự ổn định cân bằng trong cuộc sống riêng, có điều kiện tập trung trí tuệ, tâm huyết và thời gian cho công việc. Nữ trí thức nghỉ hưu ở độ tuổi 55 vừa là sự bất bình đẳng về cơ hội thăng tiến, phát triển của nữ, vừa làm lãng phí nguồn nhân lực trí tuệ cao trong công cuộc phát triển đất nước. Từ những lập luận trên, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy, khai thác năng lực thực tế của đội ngũ nữ trí thức sau tuổi nghỉ hưu
Số: /2020 Số CIT: 0 Số lượt xem: 621
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở giáo dục đào tạo đại học hàng đầu Việt Nam, có sứ mệnh: “Đào tạo nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, làm nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”. Để hoàn thành sứ mệnh này, nguồn vốn hàng năm Đại học Quốc gia Hà Nội cần sử dụng rất lớn, trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp cho trường cũng như nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước của trường mặc dù cao hơn so với mặt bằng chung nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu phát triển của nhà trường. Vì vậy, việc giải quyết bài toán tăng cường nguồn lực tài chính và hiệu quả quản lí tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội là vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay.