Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,095
Thảo luận nhóm là phương pháp đã và đang được sử dụng phổ biến trong dạy học. Việc vận dụng phương pháp này trong giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường trong quân đội (gọi chung là các nhà trường quân đội) sao cho hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trong thời gian qua, nhận thức được vai trò to lớn của phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy các môn lí luận chính trị nói chung, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, các nhà trường quân đội đã có nhiều giải pháp tích cực và hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình sử dụng phương pháp này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thật sự phát huy tốt những ưu điểm của phương pháp dạy học này. Hiện nay, trước yêu cầu ngày một cao đối với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kì mới, một trong những yêu cầu đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học của người giảng viên. Trong đó, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp phù hợp để phát huy phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,146
Đồ chơi có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Thông qua đồ chơi, giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm về thế giới xung quanh. Tuy nhiên hiện nay, đồ chơi nói chung và đồ chơi Toán học cho trẻ nói riêng tại các trường mầm non còn nhiều hạn chế và bất cập. Bài viết trình bày một số cơ sở lí luận về đồ chơi Toán học: Khái niệm đồ chơi Toán học, thiết kế đồ chơi Toán học; Vai trò của đồ chơi Toán học đối với trẻ; Những yêu cầu đối với việc thiết kế đồ chơi Toán học. Đặc biệt, bài viết đề xuất quy trình thiết kế đồ chơi Toán học cho trẻ ở trường mầm non và giới thiệu một mẫu đồ chơi Toán học đã được thiết kế
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 999
Kĩ năng chuyển đổi là một vấn đề được nhiều tổ chức và quốc gia cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm trong bối cảnh của thế kỉ XXI. Ở Việt Nam, trong bối cảnh đó, những yêu cầu về phát triển kĩ năng chuyển đổi cần được quan tâm. Thông qua tổng quan kinh nghiệm quốc tế và trong nước, bài báo đề xuất quan niệm về kĩ năng chuyển đổi cũng như 4 nhóm kĩ năng chuyển đổi (nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội, nhóm kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân, nhóm kĩ năng sử dụng các công cụ làm việc) cho học sinh phổ thông Việt Nam.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,005
Hiện nay, nhu cầu học ngoại ngữ tiếng Anh tại Việt Nam đang gia tăng. Đặc biệt, tiếng Anh của sinh viên cần được nâng cao để đáp ứng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Vì thế, đổi mới chương trình giảng dạy cũng như phương pháp dạy và học tiếng Anh tại Việt Nam là nhiệm vụ cấp thiết. Nhiều tác giả đề xuất việc áp dụng phương pháp Học cộng tác, bởi phương pháp này được xem là có thể mang lại nhiều lợi ích cho người học ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc áp dụng Học cộng tác còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là về yếu tố văn hóa ở Việt Nam. Vậy nên, việc áp dụng phương pháp Học cộng tác cần phải được điều chỉnh và sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.Thông qua một số kết quả nghiên cứu (định tính và định lượng) từ các nguồn phỏng vấn sâu, quan sát lớp học và bản câu hỏi khảo sát, bài báo cho thấy, mặc dù phần lớn các giáo viên và sinh viên Việt Nam có xu hướng ủng hộ việc áp dụng Học cộng tác môn Tiếng Anh. Nhiều giáo viên tiếng Anh chưa nắm bắt rõ ràng và sâu sắc các khái niệm về Học cộng tác và các vấn đề liên quan đến Học cộng tác. Từ đó, bài báo đề xuất rằng, để áp dụng hiệu quả và thành công phương pháp Học cộng tác trong giảng dạy tiếng Anh, cần phải đổi mới và nâng cao kiến thức và vai trò của giáo viên tiếng Anh khi áp dụng phương pháp Học cộng tác.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,343
Các bài học trong sách giáo khoa và tài liệu học tập của các môn học ở trường phổ thông của Việt Nam và các nước trên thế giới đều được biên soạn dưới dạng văn bản thông tin. Để học các môn, học sinh cần phải biết cách đọc các văn bản này. Tuy nhiên, khả năng và hiệu quả đọc văn bản thông tin của học sinh phổ thông ở Việt Nam chưa cao do chưa được hướng dẫn về kĩ năng đọc. Điều này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập cũng như khả năng đọc để tự học của học sinh. Ở nhiều nước trên thế giới, giáo viên của các môn học đều phải dạy học sinh cách đọc hiểu văn bản thông tin. Mục tiêu, loại văn bản, nội dung và yêu cầu cần đạt/chuẩn về đọc hiểu văn bản thông tin của một số nước được quy định cụ thể trong chương trình giáo dục phổ thông. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và xu thế quốc tế, cần có những định hướng cụ thể về dạy đọc hiểu văn bản thông tin trong các môn học ở trường phổ thông của Việt Nam trong thời gian tới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,154
Việc đưa giáo dục giá trị văn hóa vào trường học là việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Giáo dục giá trị văn hóa cho học sinh tiểu học nhằm giúp học sinh nhận ra được những giá trị của bản thân; giúp các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực. Mỗi nước xuất phát từ hình ảnh cụ thể về con người mong muốn mà giáo dục có sứ mệnh hình thành để đặt ra các mục tiêu cụ thể cho giáo dục giá trị. Bài viết tìm hiểu một số khái niệm cơ bản về giá trị, giá trị văn hóa, tìm hiểu nội dung giáo dục giá trị văn hóa và phương thức giáo dục giá trị văn hóa của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể để giáo dục giá trị văn hóa đạt hiệu quả trong thời gian tới.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 940
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam, tính tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của giáo dục đại học trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để thực hiện công tác tự chủ đại học thì các cơ sở giáo dục đại học cần phải có những thay đổi để việc tự chủ mang tính bền vững. Bài viết đề cập đến các giải pháp để hướng đến tự chủ đại học bao gồm: Những yếu tố cần thiết cho việc tự chủ, tăng dần các nguồn thu hợp pháp đảm bảo nguồn chi, thay đổi cơ cấu ngành học, đổi mới phương pháp giảng dạy và quản lí học tập, đầu tư phát triển, sử dụng và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, thay đổi chương trình và giáo trình, tăng cường quy mô đào tạo nhưng phải chú trọng chất lượng, quan tâm đến phát triển đội ngũ cán bộ và đổi mới cơ chế quản lí tài chính. Với những biện pháp nêu trên, bài viết đã khảo sát tính cần thiết và khả thi. Các biện pháp trên sẽ giúp cho trường đại học hướng đến việc tự chủ đại học.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,766
Học tập phát triển nghề nghiệp là quá trình giáo viên tiếp thu kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm mới để cải thiện thực hành giảng dạy, mang lại thay đổi cho cá nhân giáo viên, học sinh và cho cả hệ thống giáo dục. Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng học tập phát triển nghề nghiệp của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở theo tiếp cận cấu trúc 4 thành phần: hợp tác, phản chiếu tự thân, thử nghiệm và học tập kiến thức chung. Đã có 517 giáo viên tiểu học và trung học cơ sở của 4 tỉnh Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang tham gia khảo sát bằng bảng hỏi và 8 giáo viên trong số đó tham gia phỏng vấn sâu. Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, việc học tập phát triển nghề nghiệp của giáo viên được thực hiện khá thành công và đa dạng tại các trường phổ thông. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu định tính lại chỉ ra những hạn chế nhất định ở một số khía cạnh trong các hoạt động học tập phát triển nghề nghiệp của giáo viên.Trong các hoạt động học tập phát triển nghề nghiệp, thử nghiệm các đổi mới được thực hiện hạn chế hơn các hoạt động khác. Trên cơ sở các kết quả của nghiên cứu, các biện pháp thúc đẩy việc học tập phát triển nghề nghiệp của giáo viên phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục cần dựa trên những đề xuất rút ra từ thực tiễn nghiên cứu này..
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 1,235
Bài viết tìm hiểu thực trạng công tác đánh giá động lực làm việc của giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 266 giảng viên và phỏng vấn 05/266 giảng viên cơ hữu đang công tác tại trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số điểm mạnh và hạn chế về đặc điểm công việc, đào tạo, bồi dưỡng và cơ hội phát triển nghề nghiệp, chế độ chính sách, phúc lợi và môi trường làm việc. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn giúp ban lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách nhà trường ban hành các chính sách, kế hoạch và biện pháp đánh giá động lực làm việc của giảng viên chính xác, khoa học, hợp lí.
Số: /2021
Số CIT: 0
Số lượt xem: 941
Một trong những yếu tố giúp học sinh ứng phó với những biến đổi xã hội như đại dịch COVID-19 hiện nay là các kĩ năng để vượt qua khó khăn cả về tâm lí, học tập và các hoạt động trong cuộc sống. Đây cũng là điều mà thế giới đang chung tay thực hiện như một phần quan trọng trong quá trình đẩy lùi dịch bệnh và giáo dục học sinh trong giai đoạn đặc biệt này. Với lí do đó, chúng tôi tham khảo một số kinh nghiệm quốc tế giúp trẻ em ứng phó với đại dịch COVID-19 và đề xuất việc hình thành những kĩ năng cần thiết cho học sinh Việt Nam để vượt qua đại dịch này. Những kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy về kĩ năng nói chung, kĩ năng ứng phó với đại dịch nói riêng.

