Danh sách bài viết

Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 768
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là môn học nền tảng, là một bộ phận quan trọng tạo nên trình độ văn hóa của con người. Việc nâng cao hiệu quả của dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông đòi hỏi cần có một sự đổi mới cơ bản về nội dung cũng như phương pháp dạy học nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động của học sinh. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập, thực hành luyện tập thông qua dạy học đọc hiểu văn bản văn học là một trong những biện pháp được giáo viên sử dụng phổ biến nhằm bồi dưỡng, phát triển năng lực Ngữ văn (năng lực tiếp nhận văn học) cho học sinh ở nhà trường trung học phổ thông.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,647
Bài viết đề cập đến việc tích hợp bảo vệ môi trường trong môn Tự nhiên Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học. Theo tác giả, trong tất cả các môn học ở trường tiểu học thì môn Tự nhiên Xã hội được xem là môn học lí tưởng để lồng ghép các nội dung tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh bởi vì môn học này vừa gần gũi với học sinh vừa thực tế giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiệu quả của việc tích hợp bảo vệ môi trường trong môn Tự nhiên Xã hội ở trường tiểu học sẽ là tài liệu tham khảo và tạo nên xu thế giảng dạy có hiệu quả về việc tích hợp bảo vệ môi trường ở tất cả các môn học không chỉ riêng môn Tự nhiên Xã hội ở tiểu học mà còn ở tất cả các môn trong mọi cấp học.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,086
Văn hóa nhà trường có ảnh hưởng tới chất lượng trong mỗi nhà trường. Ở mỗi cấp học, bậc học thì việc xây dựng và phát huy những yếu tố tích cực trong văn hóa nhà trường là cần thiết. Trong đó, hệ thống nhà trường cao đẳng sư phạm với đặc thù đào tạo giáo viên cho các cấp, bậc học từ Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở thì việc xác định đúng vị trí và tiến hành quá trình quản lí phát triển văn hóa nhà trường có tác động rất lớn tới chất lượng đào tạo. Thực trạng về phát triển và quản lí phát triển văn hóa nhà trường tại các trường cao đẳng sư phạm vùng Đồng bằng Sông Hồng, cho thấy nhận thức về vấn đề phát triển văn hóa nhà trường của các thành viên đã có nhưng chưa đồng đều, thống nhất. Các nhà trường đang trong quá trình định hình lại các giá trị văn hóa nhà trường nhưng vẫn chưa có sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của phát triển văn hóa nhà trường.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,845
Các nghiên cứu mặc dù đưa ra những cách diễn giải về khái niệm siêu nhận thức khác nhau, song về cơ bản nội hàm khái niệm này tương đối nhất quán. Các công trình đều cho rằng siêu nhận thức là cấp độ cao hơn của nhận thức, là quá trình tư duy bậc hai, là quá trình người học theo dõi và điều chỉnh tư duy để mang lại hiệu quả học tập, công việc cao hơn. Về cơ bản thành phần của siêu nhận thức được nghiên cứu ở hai nội dung: Kiến thức siêu nhận thức và kĩ năng siêu nhận thức. Hiện nay, ở Việt Nam việc nghiên cứu và vận dụng lí thuyết siêu nhận thức trong giáo dục chưa nhiều. Do đó, để nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh nhằm giúp các em tích cực, tự giác, phát huy tính chủ thể sáng tạo của người học thì cần có nhiều nghiên cứu cụ thể cho từng vấn đề của siêu nhận thức.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 915
Bài viết tập trung vào các vấn đề về: Một số đặc điểm nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Cơ hội, thách thức và tác động của nó đến giáo dục; Đề xuất những thay đổi cần thiết về tư duy, mô hình và chính sách phát triển giáo dục. Giáo dục nước ta đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cần tập trung đào tạo một số ngành, nghề hoặc mở các nghành nghề mới, liên quan đến lĩnh vực kĩ thuật số và công nghệ cao, đặc biệt là việc kết nối đào tạo tích hợp cả ba lĩnh vực vật lí, kĩ thuật số và sinh học. Ngành Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam cần thay đổi tư duy, mô hình và chính sách phát triển giáo dục để đón nhận cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực nhằm vượt qua thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 811
Ngày nay, đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục là một yêu cầu khách quan trước xu thế hội nhập quốc tế và là yếu tố mang tính quyết định đối với trường đại học. Để tồn tại và phát triển, các trường đại học phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng các nhu cầu thực tiễn trong môi trường lao động có tính cạnh tranh cao của thời đại toàn cầu hóa. Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đại học Việt Nam nói chung và của mỗi trường đại học nói riêng là phải đẩy mạnh hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục. Bài viết đề cập đến tầm quan trọng của hoạt động kiểm định chất lượng trường đại học, phân tích thực trạng đánh giá và công nhận chất lượng của các trường đại học, từ đó đưa ra một số đề xuất cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng các trường đại học hiện nay.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 889
Tổ chức thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục chính là đưa các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ và giải pháp trong Nghị quyết Số 29 vào cuộc sống. Mặc dù đã có chương trình hành động của Chính phủ và Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục, nhưng do thiếu một kế hoạch tổng thể trong tổ chức thực hiện cho nên ngành Giáo dục hiện đang đứng trước một yêu cầu quá tải các công việc phải giải quyết. Việc lựa chọn các mục tiêu ưu tiên và khâu đột phá là hết sức cần thiết. Bài viết đề cập đến các mục tiêu ưu tiên xuất phát từ việc công nhận các yếu tố nền tảng của bất kì nền giáo dục thành công nào. Trên cơ sở đó, nhận dạng các khâu đột phá với tư cách là nhóm các giải pháp nhằm một mặt tháo gỡ các nút thắt của giáo dục nước ta, mặt khác hướng tới thực hiện các mục tiêu ưu tiên.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,466
Trong những năm qua, các nghiên cứu về phát triển chương trình đã được chú trọng. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam xác định đây là một trong những hướng nghiên cứu trọng tâm, định hướng cho các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên. Với quan niệm rằng, phát triển chương trình môn học là một trong các vấn đề cốt lõi của phát triển chương trình giáo dục phổ thông, tác giả bài viết điểm lại một số vấn đề cơ bản trong phát triển chương trình môn học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được đúc rút từ các kết quả nghiên cứu trong thời gian qua.
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 906
Việc phân tích các lợi ích của Việc sử dụng cảm biến và các thiết bị kết nối máy tính hỗ trợ thí nghiệm mang lại nhiều lợi ích trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông như: Thu thập số liệu nhanh, nhiều hơn và chính xác hơn; Khả năng xử lí số liệu mạnh mẽ; Khả năng tìm hiểu vấn đề nhanh và dễ dàng bộc lộ bản chất hiện tượng; Tìm hiểu sâu hơn về các hiện tượng - quy luật vật lí; Mở ra nhiều phương án tìm hiểu hiện tượng và quy luật vật lí; Giúp giáo viên và học sinh tiết kiệm thời gian; Tạo hứng thú với nhiệm vụ học tập; Giúp phát triển năng lực học sinh. Với tốc độ đo cao, chính xác, thao tác tác đo đơn giản, khả năng mở rộng lớn, xử lí số liệu mạnh mẽ và trực quan, các bộ cảm biến và thiết bị kết nối thí nghiệm sẽ giúp bộc lộ các quy luật vật lí dễ dàng, từ đó, hỗ trợ giáo viên được hỗ trợ trong quá trình dạy học tích cực, sáng tạo và nâng cao hiệu quả dạy học. Bài viết cũng đề cập đến thiết bị kết nối ViLabs và cảm biến siêu âm do tác giả chế tạo nhằm hỗ trợ các thí nghiệm cơ học trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông
Số: /2021 Số CIT: 0 Số lượt xem: 4,449
Ở Việt Nam, kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nguyên lí giáo dục: Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội. Nhóm tác giả qua nghiên cứu về mức độ thực hiện các kĩ năng, các hình thức tổ chức phối hợp với gia đình và xã hội cho thấy: Phần lớn giáo viên chủ nhiệm thực hiện các nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng ở mức tương đối đầy đủ, thường xuyên. Hiệu quả đạt được của việc thực hiện các nội dung phối hợp cũng đạt mức có hiệu quả. Mức độ thực hiện tỉ lệ thuận với hiệu quả đạt được trong quá trình thực hiện các nội dung phối hợp. Khó khăn trong việc phối hợp với gia đình và nhà trường trong giáo dục học sinh theo mô hình VNEN cũng ở mức độ rất cao.