Danh sách bài viết

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 991
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung vào việc sử dụng phần mềm GeoGebra để thiết kế các mô hình động nhằm hỗ trợ dạy học khám phá chủ đề Một số yếu tố xác suất trong chương trình Toán Trung học cơ sở. Với tính trực quan và tương tác cao, thông qua mô phỏng động trên GeoGebra giúp minh họa các khái niệm xác suất lí thuyết, xác suất thực nghiệm và mối liên hệ của chúng. Nghiên cứu đề xuất quy trình thiết kế mô hình động trên GeoGebra, bao gồm các ví dụ cụ thể với các mô hình mô phỏng gieo đồng xu, xúc xắc, vòng quay và đánh giá tính khả thi thông qua thực nghiệm sư phạm. Kết quả cho thấy, việc sử dụng mô hình động giúp học sinh hứng thú hơn, dễ dàng hình dung các tình huống xác suất và ghi nhớ kiến thức lâu hơn so với phương pháp truyền thống. Nghiên cứu góp phần phát triển tài nguyên số trong dạy học Toán, đồng thời đề xuất hướng ứng dụng công nghệ vào giảng dạy chủ đề Một số yếu tố xác suất ở Trung học cơ sở.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 723
Trong bối cảnh ngành Y tế Việt Nam đang đối mặt với nhu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực điều dưỡng và hộ sinh có kĩ năng thực hành vững vàng, nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo thực hành nghề nghiệp tại các trường cao đẳng khối ngành Sức khỏe. Cụ thể, nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa chất lượng chương trình đào tạo, chất lượng cơ sở vật chất, nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của đào tạo thực hành và kết quả học tập của sinh viên. Dữ liệu được thu thập từ 338 sinh viên điều dưỡng và hộ sinh thông qua khảo sát cắt ngang và phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM. Kết quả cho thấy, chất lượng chương trình đào tạo và cơ sở vật chất đều có ảnh hưởng tích cực đến cả nhận thức của sinh viên và kết quả học tập. Đặc biệt, nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo thực hành đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa hai yếu tố đầu vào và kết quả học tập. Nghiên cứu cung cấp các khuyến nghị thực tiễn cho các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo thực hành, góp phần cải thiện năng lực nghề nghiệp cho sinh viên điều dưỡng và hộ sinh, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,189
Bài viết tập trung nghiên cứu việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3–4 tuổi qua hoạt động kể chuyện tại một số trường mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động kể chuyện và vốn từ của trẻ. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ ở trẻ - khoảng trống chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu gần đây. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, khảo sát thực tiễn và phỏng vấn cán bộ quản lí, giáo viên, quan sát trẻ để thu thập dữ liệu định lượng và định tính. Nghiên cứu cho thấy hoạt động kể chuyện còn hạn chế trong tính hấp dẫn của nội dung, sự đơn điệu của phương pháp, sự dập khuôn về hình thức tổ chức. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp: 1) Xây dựng môi trường kể chuyện phong phú; 2) Tăng cường tương tác với trẻ; 3) Khuyến khích trẻ kể lại trải nghiệm hằng ngày; 4) Sử dụng tranh minh họa để trẻ kể lại truyện. Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ giúp trẻ mở rộng vốn từ, phát triển ngôn ngữ mà còn nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động kể chuyện của giáo viên mầm non.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 657
Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã và đang trở thành xu hướng mới trong kỉ nguyên số. Tại Việt Nam, hoạt động dạy học trực tuyến đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng việc sử dụng nền tảng số để đánh giá năng lực, đặc biệt là năng lực đọc hiểu, vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu phát triển một website hỗ trợ kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh, qua đó giải quyết khoảng trống trong việc xây dựng công cụ số có khả năng đánh giá nhiều mức độ tư duy. Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp thiết kế phát triển gồm 9 bước: 1) Phân tích và thiết kế hệ thống, 2) Lựa chọn công nghệ phù hợp, 3) Thiết kế cơ sở dữ liệu, 4) Phát triển giao diện người dùng (frontend), 5) Phát triển logic xử lí phía máy chủ, 6) Tích hợp frontend và backend, 7) Kiểm thử và gỡ lỗi hệ thống, 8) Triển khai hệ thống, 9) Thu thập phản hồi và cải tiến. Kết quả bước đầu cho thấy, website có hiệu quả trong việc xây dựng các dạng câu hỏi đa dạng, giúp học sinh luyện tập và tự đánh giá năng lực đọc hiểu, đồng thời, cung cấp cho giáo viên công cụ trực quan để theo dõi tiến độ và kết quả học tập của học sinh.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 2,751

Trong bối cảnh chuyển đổi số, Chatbot trí tuệ nhân tạo (AI Chatbot) nổi lên như một công cụ hỗ trợ học tập tiềm năng trong giáo dục đại học. Nghiên cứu này khảo sát thực trạng, đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng AI-Chatbot của sinh viên tại 05 trường Đại học Sư phạm kĩ thuật tại Việt Nam. Với phương pháp nghiên cứu định lượng, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 3.077 sinh viên thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, từ năm nhất đến năm tư thông qua phiếu khảo sát. Dữ liệu được xử lí bằng phần mềm SPSS22, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và phân tích ANOVA để đánh giá. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng sử dụng, những lợi ích, hiệu quả, mức độ làm chủ cũng như các khó khăn mà sinh viên gặp phải khi dùng AI-Chatbot trong học tập. Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra những định hướng sử dụng công cụ AI-Chatbot trong tương lai. Đáng chú ý, có sự khác biệt rõ rệt trong việc sử dụng AI-Chatbot giữa sinh viên các năm học. Cụ thể, sinh viên năm 4 và sinh viên ngành Công nghệ thông tin thể hiện mức độ sử dụng và hiệu quả cao hơn, điều này cho thấy kĩ năng sử dụng AI Chatbot có mối liên hệ với kinh nghiệm học tập, sự phát triển nhận thức và nền tảng kĩ thuật chuyên môn của người dùng.

Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,650
Trí tuệ nhân tạo có tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực trong cuộc sống, trong đó có giáo dục. Chatbot là một ứng dụng trí tuệ nhân tạo được tạo ra để mô phỏng các cuộc trò chuyện với người dùng qua Internet. Chatbot có khả năng hiểu và tự động phản hồi các câu hỏi từ người dùng. Tuy nhiên, khi sử dụng Chatbot trong quá trình dạy học, tiềm ẩn nhiều rủi ro như thông tin sai lệch, người học tiếp nhận thông tin thụ động và phụ thuộc vào Chatbot dẫn đến hạn chế tư duy phản biện. Chính vì vậy, cần nghiên cứu để đưa ra các giải pháp sư phạm để phát triển kĩ năng tư duy phản biện khi sử dụng công cụ Chatbot trong quá trình học tập là rất cần thiết. Do đó, bài viết này tổng quan các nghiên cứu về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục để có cơ sở đề xuất mô hình dạy học phát triển khả năng lập luận của sinh viên, từ đó chống lại sự suy giảm tư duy phản biện của sinh viên trong môi trường học tập được hỗ trợ bởi Chatbot. Mô hình đề xuất bao gồm một quy trình bốn bước, tập trung vào việc xây dựng lập luận cá nhân theo cấu trúc Toulmin, sau đó là thảo luận nhóm hợp nhất và phản ánh, với sự hỗ trợ có kiểm soát từ Chatbot và vai trò định hướng, phản biện của giảng viên. Nghiên cứu góp phần khẳng định tiềm năng của việc kết hợp phương pháp sư phạm có cấu trúc với sự hỗ trợ bởi Chatbot trong việc bồi dưỡng tư duy phản biện, mở ra hướng đổi mới cho giáo dục đại học.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 759
Lịch sử nghiên cứu về vấn đề đi kèm ở trẻ có rối loạn học tập đã cho thấy những biểu hiện đáng kể của giảm chú ý và các khó khăn liên quan đến kĩ năng cảm xúc - xã hội. Nghiên cứu này đã phân tích dữ liệu trên 39 học sinh lớp 1 và lớp 2 có nguy cơ cao rối loạn học tập tại tỉnh Nam Định nhằm xác định đặc điểm chú ý và kĩ năng cảm xúc - xã hội ở các em. Kết quả phân tích cho thấy biểu hiện giảm chú ý phổ biến nhất là các em dễ bị xao nhãng bởi âm thanh hoặc những thứ khác và hay mắc các lỗi do cẩu thả. Đáng chú ý, so với báo cáo từ phía cha mẹ, đánh giá từ phía giáo viên cho thấy tỉ lệ nguy cơ cao giảm chú ý ở những học sinh này là nhiều hơn. Ngoài ra, 30% tổng số khách thể thuộc nhóm nguy cơ cao gặp những rào cản liên quan đến kĩ năng cảm xúc - xã hội. Những khó khăn này có mối liên hệ tích cực với các biểu hiện giảm chú ý ở khách thể. Sự chồng chéo của các triệu chứng ở cả rối loạn học tập lẫn giảm chú ý và kém kĩ năng cảm xúc - xã hội có thể khiến cho trẻ gặp nhiều thách thức hơn trong quá trình học tập.
Số: /2025 Số CIT: 0 Số lượt xem: 648
Bài viết trình bày kết quả triển khai thử nghiệm một số nội dung của Dự thảo Chương trình Giáo dục mầm non mới tại 6 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế - xã hội khác nhau của Việt Nam (Thái Nguyên, Ninh Bình, Nghệ An, Kon Tum, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp). Mục đích thử nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi, mức độ phù hợp và hiệu quả thực tiễn của các nội dung đổi mới trong chương trình, từ đó đề xuất điều chỉnh hoàn thiện trước khi thí điểm rộng rãi. Nghiên cứu kết hợp các phương pháp phân tích tài liệu, khảo sát thực tiễn, giám sát quá trình triển khai và phân tích định tính phản hồi từ cán bộ quản lí, giáo viên mầm non, cha mẹ và trẻ em. Kết quả cho thấy, các nội dung mới nhìn chung phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, đáp ứng điều kiện thực tiễn các cơ sở giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Bài viết rút ra một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị nhằm hoàn thiện chương trình trước khi triển khai thí điểm và chính thức ban hành.