Danh sách bài viết

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 265
Dạy học phân hóa là một trong những định hướng sư phạm quan trọng nhằm đáp ứng sự đa dạng về năng lực, nhu cầu và nhịp độ học tập của học sinh tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dạy học phân hóa và đào tạo giáo viên, các bằng chứng thực nghiệm về năng lực dạy học phân hóa của sinh viên sư phạm tiểu học trong giai đoạn thực tập trên quy mô lớn và có tính hệ thống vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng năng lực dạy học phân hóa của sinh viên sư phạm tiểu học trong thực tập sư phạm, đồng thời phân tích những khó khăn và các yếu tố cần điều chỉnh trong đào tạo. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát với 461 sinh viên sư phạm tiểu học đến từ 13 trường đại học thuộc ba miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và xử lí bằng các phương pháp thống kê mô tả và so sánh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên đã hình thành nhận thức và năng lực bước đầu về dạy học phân hóa, đặc biệt trong việc điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Tuy nhiên, sinh viên vẫn gặp nhiều khó khăn trong quản lí lớp học, đánh giá học sinh và chuyển hóa kiến thức lí thuyết vào thực tiễn giảng dạy. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả đào tạo giáo viên tiểu học theo định hướng dạy học phân hóa.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 277
Việc làm sau tốt nghiệp là thước đo trực diện của chất lượng giáo dục nghề nghiệp và là nơi bộc lộ rõ khoảng cách giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động. Vì vậy, tư vấn hướng nghiệp gắn với việc làm sau tốt nghiệp không thể hiểu như hỗ trợ đơn lẻ, càng không thể thu hẹp thành giới thiệu việc làm, mà phải được đặt đúng vị trí là cơ chế quản trị theo vòng đời người học. Cơ chế này giúp người học ra quyết định nghề nghiệp có căn cứ, chuẩn bị năng lực chuyển tiếp và duy trì khả năng thích ứng khi gia nhập thị trường lao động. Bài viết làm rõ nội hàm và yêu cầu tổ chức tư vấn theo hướng dựa vào dữ liệu, coi dữ liệu là nền tảng để theo dõi kết quả việc làm và tạo vòng phản hồi cải tiến đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung triển khai gồm chẩn đoán nhu cầu, đánh giá năng lực, lập kế hoạch tư vấn cá thể hóa, kết nối doanh nghiệp, theo dõi sau tốt nghiệp và sử dụng phản hồi để điều chỉnh chương trình. Bài viết nhấn mạnh yêu cầu hồ sơ số người học, trường dữ liệu dùng chung và bộ chỉ báo theo dõi việc làm sau tốt nghiệp nhằm tăng trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 346

Môi trường học tập lâm sàng đóng vai trò then chốt nhưng đặt ra nhiều thách thức trong đào tạo nghề y dược hiện nay. Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của nó đối với nhận diện nghề nghiệp ở sinh viên các ngành khoa học sức khỏe khối Cao đẳng còn hạn chế. Mục đích của nghiên cứu cắt ngang mô tả này nhằm đánh giá mức độ nhận thức môi trường học lâm sàng và nhận diện nghề nghiệp của sinh viên thuộc một trường cao đẳng đào tạo nghề y dược đáp ứng tiêu chí nghiên cứu đồng thời xác định mối liên quan giữa hai biến số, đề xuất giải pháp khắc phục. Kết quả khảo sát qua thang đo Likert ghi nhận sinh viên đánh giá môi trường học tập lâm sàng có mức ảnh hưởng khá tốt (2.85 ± .48), có nhận diện nghề nghiệp tích cực (3.53 ± .69). Phân tích hồi quy tuyến tính khẳng định môi trường học lâm sàng có tác động đáng kể đến nhận diện nghề nghiệp với sinh viên (p < .001).

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 347
Trong bối cảnh triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển năng lực, việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh tiểu học trở thành nhiệm vụ trọng tâm. Mặc dù hoạt động đọc mở rộng môn Tiếng Việt được xem là môi trường bồi dưỡng năng lực này, nhưng trên thực tế, việc tổ chức dạy học chủ yếu khai thác nội dung văn bản ở mức độ tái hiện, chưa hướng dẫn các thao tác tư duy bậc cao cho học sinh một cách bài bản. Dựa trên khung phát triển tư duy phản biện của ACER với ba nhóm năng lực cốt lõi, bài viết đề xuất bốn nhóm biện pháp tổ chức hoạt động đọc mở rộng nhằm phát triển đồng bộ các thành tố này cho học sinh: Lựa chọn nguồn văn bản đọc mở rộng có tiềm năng; Hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ, bảng biểu để hệ thống hóa thông tin văn bản; Tổ chức hoạt động đọc - suy luận và thảo luận đa chiều; Tổ chức hoạt động so sánh, đánh giá văn bản và viết phản hồi sáng tạo. Kết quả này vừa hỗ trợ giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học đọc mở rộng theo hướng phát triển tư duy phản biện một cách hệ thống vừa góp phần khơi dậy hứng thú đọc sách, hình thành thói quen tự học và văn hóa đọc cho học sinh.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 230
Dạy học dự án là một phương pháp dạy học có ưu thế cho việc phát triển năng lực của người học trong đó có năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng. Với nội dung kiến thức chuyên sâu và gắn với thực tiễn của các chuyên đề học tập môn sinh học là đặc điểm thuận lợi cho việc vận dụng dạy học theo phương pháp này. Nghiên cứu này tập trung làm rõ vai trò của PBL trong việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh trung học phổ thông, đặc biệt trong dạy học chuyên đề “Dinh dưỡng khoáng - tăng năng suất cây trồng và nông nghiệp sạch” môn Sinh học 11 nhằm khỏa lấp khoảng trống về các nghiên cứu thực tiễn trong nội dung này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng hiệu quả của quy trình đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành trên 140 học sinh (thực nghiệm 70 học sinh và đối chứng 70 học sinh) tại hai trường trung học phổ thông. Kết quả xử lí thống kê cho thấy tác động tích cực của PBL đối với việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh trong dạy học chuyên đề Sinh học 11. Nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lí luận mà còn cung cấp quy trình thực tiễn giúp giáo viên phổ thông triển khai hiệu quả các chuyên đề học tập môn Sinh học theo định hướng phát triển năng lực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 236

Giáo dục đại học ở Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước, xã hội. Trong 20 năm qua, hệ thống giáo dục đại học đã có những chuyển biến mạnh mẽ về mục tiêu và chính sách để đáp ứng yêu cầu phát triển quốc gia. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để đánh giá sự thay đổi trong các mục tiêu phát triển, đổi mới và cải cách giáo dục đại học Việt Nam từ năm 2005 đến 2025. Các văn bản chính sách được nghiên cứu để rút ra những kết luận về sự phát triển của mục tiêu giáo dục qua từng giai đoạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba trụ cột chính của phát triển giáo dục đại học tại Việt Nam giai đoạn 2005-2020 là chất lượng, mở rộng và công bằng. Tuy vậy, khi xem xét kĩ hơn, có thể thấy các mục tiêu về chất lượng và mở rộng đã được lượng hóa thành chỉ tiêu rõ ràng, các mục tiêu về công bằng vẫn thiếu các chỉ số lượng hóa cụ thể. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất điều chỉnh và bổ sung các tiêu chí định lượng trong chính sách giáo dục đại học, từ đó nâng cao hiệu quả triển khai và đảm bảo sự phát triển bền vững trong hệ thống giáo dục đại học.

Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 362
Mặc dù vai trò của giáo dục đại học đối với phát triển bền vững đã được thừa nhận trong nhiều nghiên cứu nhưng việc thiếu hụt các minh chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa nhận thức của sinh viên và đóng góp thực tế của nhà trường tại các vùng nhạy cảm về môi trường như Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn là một khoảng trống nghiên cứu đáng kể. Nghiên cứu này vận dụng mô hình KAP để khám phá mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên và vai trò của trường đại học đối với phát triển bền vững. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát 935 sinh viên và phân tích bằng phần mềm SmartPLS 4. Kết quả cho thấy, kiến thức là yếu tố có tác động sâu sắc nhất đến thái độ và hành vi bền vững và sự tham gia của nhà trường vào các hoạt động bền vững. Tuy nhiên, một phát hiện trái với kì vọng là thái độ không phải yếu tố quyết định hành vi, cũng không đóng vai trò là động lực thúc đẩy đóng góp của trường đại học. Đặc biệt, tác động của nhà trường đến việc định hình hành vi bền vững của sinh viên hiện còn rất hạn chế. Kết quả này cung cấp căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học tái cấu trúc chiến lược quản trị và đào tạo nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức và thực thi tính bền vững.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 469
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, bài báo này đánh giá thực trạng năng lực viết nghị luận văn học của học sinh chuyên Văn ở trường trung học phổ thông chuyên thông qua khảo sát tự đánh giá của 176 học sinh chuyên Văn (lớp 10-12) thuộc 06 trường trung học phổ thông chuyên tiêu biểu tại miền Bắc. Phiếu hỏi học sinh được thiết kế theo thang đo Likert 5 bậc, bám sát 14 thành tố năng lực ở ba giai đoạn của tiến trình viết: trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết. Kết quả khảo sát cho thấy, năng lực ở giai đoạn trước và trong khi viết chủ yếu được học sinh đánh giá ở mức khá; giai đoạn sau khi viết cơ bản ở mức trung bình. Từ những kết quả đó, bài báo gợi mở một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển một cách đồng bộ các thành tố của năng lực viết văn bản nghị luận văn học cho học sinh chuyên Văn, trong đó chú trọng dạy viết dựa theo tiến trình gắn với các kĩ năng nâng cao, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quan điểm, chương trình, nội dung bồi dưỡng học sinh chuyên Văn đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực.
Số: /2026 Số CIT: 0 Số lượt xem: 325

Bài viết nhằm xem xét tính phù hợp của mô hình lớp học đảo ngược đối với việc dạy học các môn lí luận chính trị trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, bài viết tiến hành phân tích các công trình trong và ngoài nước về lớp học đảo ngược, giáo dục lí luận chính trị, định hướng đổi mới giáo dục đại học và đặc điểm thế hệ sinh viên hiện nay, từ đó làm rõ cơ sở lí luận cho việc áp dụng mô hình này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra ba khía cạnh nổi bật: Thứ nhất, lớp học đảo ngược phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và chuyển đổi số trong giáo dục đại học, khi nhấn mạnh vai trò chủ động của sinh viên. Thứ hai, lớp học đảo ngược cho phép tái cấu trúc hoạt động học tập theo chu trình trước giờ lên lớp - trên lớp - sau giờ lên lớp, tạo điều kiện để sinh viên tiếp thu kiến thức cơ bản ở giai đoạn chuẩn bị và phát triển tư duy phản biện, năng lực vận dụng trong quá trình thảo luận, xử lí tình huống thực tiễn trên lớp. Thứ ba, lớp học đảo ngược đáp ứng đặc điểm học tập của sinh viên Việt Nam thuộc thế hệ Z, vốn quen thuộc với môi trường số và có nhu cầu cao về đối thoại, trải nghiệm. Bài viết không chỉ đưa ra gợi ý có ý nghĩa trong việc đổi mới phương pháp dạy học các môn lí luận chính trị, mà còn gợi mở hướng nghiên cứu thực nghiệm về triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong thực tiễn giảng dạy, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và nhu cầu học tập của thế hệ Z.