Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,097
Bài viết từ phân tích và có những những nhận định, đánh giá về thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Tây Đô, từ đó đề ra 6 biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Tây Đô, đó là: 1) Xây dựng khung năng lực cho đội ngũ giảng viên; 2) Quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên; 3) Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ; 4) Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên; 5) Xây dựng môi trường phát triển; 6) Kiểm tra, đánh giá phát triển đội ngũ giảng viên.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,779
Xây dựng và triển khai kế hoạch giáo dục của nhà trường là một nhiệm vụ bắt buộc với các trường phổ thông nhất là khi thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Thông qua một số kết quả nghiên cứu, tác giả giới thiệu quan niệm về kế hoạch, kế hoạch giáo dục của nhà trường, đặc điểm của kế hoạch giáo dục, một số loại kế hoạch, cấu trúc của một bản kế hoạch, gợi ý về quy trình và những lưu ý khi xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường phổ thông.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,772
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các công cụ đo lường về học tập tự định hướng thông qua phân tích các nghiên cứu về công cụ đo lường học tập tự định hướng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có một số công cụ đo lường đáng chú ý như: 1) Nhóm công cụ đo lường mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng; 2) Thang đo trách nhiệm cá nhân trong tự định hướng học tập; 3) Thang đo nhận thức học tập tự định hướng; 4) Thang đo kĩ năng học tập tự định hướng; 5) Thang đo tự đánh giá về học tập tự định hướng. Trong số các thang đo này, nổi bật nhất là thang đo mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của Guglielmino (1977) và bản phát triển bởi các tác giả Fisher và cộng sự (2001). Thang đo này dự đoán mức độ mà người học tự đánh giá các kĩ năng và thái độ liên quan đến việc học tập tự định hướng, được đánh giá là thích hợp cho bậc đại học và những người đã hoàn thành trung học. Bên cạnh đó, thang đo cũng có thể đo được mối quan hệ giữa học tập tự định hướng và các biến số khác, đồng thời có thể đánh giá nhận thức của người học về sự sẵn sàng học tập tự định hướng. Trên cơ sở kết quả phân tích, một số gợi ý về đo lường và đánh giá học tập tự định hướng trong bối cảnh Việt Nam cũng được đề cập trong bài viết này. Các kết quả nghiên cứu được kì vọng sẽ góp phần bổ sung vào cơ sở lí luận đo lường, đánh giá về học tập tự định hướng của Việt Nam.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 3,077
Dạy học tích hợp là một trong các quan điểm xây dựng Chương trình Giáo dục phổ thông môn Tự nhiên và Xã hội 2018. Dạy học theo định hướng STEM thực chất là dạy học tích hợp của các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ Thuật và Toán học. Giáo dục STEM là mô hình giáo dục dựa trên cách tiếp cận liên môn, giúp học sinh áp dụng các kiến thức: Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể. Bài viết đề xuất quy trình tổ chức hoạt động giáo dục STEM trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nhằm phát triển năng lực của học sinh.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,927
Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề tích hợp STEM (gọi tắt là chủ đề iSTEM) là vấn đề được nhiều giáo viên quan tâm, đặc biệt trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Tiêu chí nào cho một chủ đề iSTEM? Quy trình nào cho việc xây dựng chủ đề iSTEM trong dạy học đơn môn của Chương trình giáo dục trung học hiện hành và Chương trình Giáo dục Trung học phổ thông 2018 là các câu hỏi nghiên cứu của bài viết này. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các tiêu chí và quy trình đã có, tác giả đề xuất bộ tiêu chí nhận diện và đánh giá chủ đề iSTEM, quy trình xây dựng chủ đề iSTEM đáp ứng bộ tiêu chí đó.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,349
Đánh giá qua hồ sơ học tập là một phương pháp đánh giá cho phép học sinh được tham gia tích cực vào toàn bộ quá trình đánh giá, phát huy khả năng tự đánh giá trong các hoạt động học tập. Tiến trình đánh giá theo phương pháp này bao gồm hai giai đoạn là xây dựng và đánh giá, trong đó xây dựng hồ sơ học tập được xem là giai đoạn trọng tâm. Bài viết làm rõ quy trình xây dựng hồ sơ học tập sử dụng trong đánh giá học sinh tiểu học. Một minh họa cụ thể về việc xây dựng hồ sơ học tập để đánh giá sự tiến bộ của học sinh tiểu học cũng đã được thực hiện như là một mẫu tham khảo cho giáo viên tiểu học khi áp dụng phương pháp đánh giá qua hồ sơ học tập trong quá trình dạy học
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,286
Giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội Việt Nam là nguồn nội lực quan trọng để phát triển đất nước. Nguồn nội lực này cần được hình thành, nuôi dưỡng, phát triển từ sớm từ trong gia đình, cộng đồng, nhà trường và mỗi con người. Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng giá trị văn hóa, sự biến đổi giá trị văn hóa ở học sinh phổ thông Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất giải pháp giáo dục giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội cho học sinh phổ thông trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,956
Bài viết trình bài kết quả khảo sát mối quan hệ giữa các thành tố trong hoạt động phối hợp giáo dục đạo đức học sinh trung học cơ sở giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh trên 167 cán bộ quản lí và giáo viên các trường trung học cơ sở ở thành phố Thủ Đức. Mục đích của nghiên cứu là xác định mức độ tương quan giữa các thành tố trong phối hợp giáo dục đạo đức học sinh trung học cơ sở. Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng. Kết quả cho thấy, các thành tố: Lập kế hoạch phối hợp, Tổ chức phối hợp, Chỉ đạo phối hợp, Kiểm tra - Đánh giá việc phối hợp, Mục tiêu phối hợp, Nội dung phối hợp, phương thức phối hợp, Điều kiện hỗ trợ phối hợp, có mối tương quan dương cao với nhau trong hoạt động phối hợp giáo dục đạo đức học sinh giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,477
Trong giai đoạn Việt Nam đang tiến hành một cuộc cải cách giáo dục lớn như hiện nay thì cảm nhận hạnh phúc của giáo viên là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá tính hiệu quả của sự thay đổi chương trình giáo dục. Điều tra ban đầu về hiệu ứng tích cực của công cuộc đổi mới này đã được tác giả thực hiện thông qua cuộc khảo sát trên quy mô tỉnh Nam Định và kết quả thu được cũng cho thấy những nguồn thông tin đa chiều. Ngoài những thông tin tích cực thì vẫn có những thông tin còn đặt ra nhiều câu hỏi cho các cấp lãnh đạo còn cần phải lưu tâm. Kết quả điều tra cho thấy, giáo viên đang cảm thấy “Công việc là có ý nghĩa” chỉ nhận được điểm số 3.10/5 điểm, là điểm số thấp nhất trong các tiêu chí đánh giá. Ngoài ra, tỉ lệ giáo viên “hoàn toàn không tin” và “có chút không tin” vào niềm tin hạnh phúc trong tương lai vẫn còn chiếm tỉ lệ tương đối lớn (24.4%). Tuy vậy, với một số tiêu chí khác như “Hài lòng với vị trí hiện tại” lại có điểm số đánh giá cao hơn (4.05/5 điểm), “Cảm thấy có động lực với công việc” đạt 4.11/5 điểm. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả hi vọng Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ có những động thái giúp giáo viên nâng cao hơn cảm nhận hạnh phúc nghề nghiệp.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,299
Bài viết trình bày tổng quan những nghiên cứu đi trước về tính sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo, những vấn đề chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một, vấn đề chuyển tiếp đối với trẻ rối loạn phổ tự kỉ và đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục chuẩn bị cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ vào trường phổ thông như: tổ chức trò chơi, tổ chức hình thức “tiết học”, áp dụng hỗ trợ trực quan. Bài báo nhấn mạnh đến việc chuẩn bị cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ vào lớp Một là cả một quá trình ở trường mầm non chứ không chỉ đến 5 tuổi mới chuẩn bị cho trẻ. Hơn nữa, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ vào học phổ thông sẽ giúp trẻ thích ứng tốt hơn, học tập tốt hơn khi bước vào học ở môi trường hoàn toàn mới với thầy cô, bạn bè mới và những hoạt động mới khi mà hoạt động chủ đạo từ chơi chuyển sang hoạt động học tập.