Bạn đang ở đây

Bài viết khoa học

Số CIT: 0 Số lượt xem: 746
Bài viết nghiên cứu về thực trạng tham gia thế giới trực tuyến của sinh viên Đại học Huế. Mẫu nghiên cứu là 706 sinh viên đến từ 4 trường đại học của Đại học Huế bao gồm: Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Khoa học, Trường Đại học Ngoại ngữ và Trường Đại học Kinh tế. Một bảng hỏi được thiết kế nhằm khảo sát 4 vấn đề khi tham gia thế giới trực tuyến, đó là: (1) Tỉ lệ và phương tiện tham gia thế giới trực tuyến; (2) Mức độ tham gia thế giới trực tuyến; (3) Địa điểm tham gia thế giới trực tuyến; (4) Mục đích tham gia thế giới trực tuyến. Kết quả khảo sát từ bảng hỏi cho thấy hầu hết sinh viên tham gia thế giới trực tuyến (với tỉ lệ 98,3%); phương tiện dùng để tham gia thế giới trực tuyến nhiều nhất là các thiết bị di động; mức độ và thời lượng tham gia trực tuyến của sinh viên khá cao; địa điểm tham gia thế giới trực tuyến chủ yếu là tại nhà/phòng trọ; mục đích chính tham gia thế giới trực tuyến là “tương tác trực tuyến qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...) xem bài/viết bài/like, comment, gửi tin/nhận tin...” và “nghe nhạc, xem nhạc, tải nhạc trực tuyến”. Kết quả nghiên cứu góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về các hoạt động trong thế giới trực tuyến của sinh viên ở thời đại công nghệ thông tin.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 973
Việc hình thành năng lực dạy học văn nghị luận cho sinh viên sư phạm ngành Ngữ văn là một nghiệm vụ quan trọng và cần thiết. Sinh viên cần phải có năng lực tạo lập văn bản nghị luận và được rèn luyện thành thạo kĩ năng dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông. Quá trình hình thành năng lực dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn nghị luận nói riêng cho sinh viên được tổ chức theo ba giai đoạn cơ bản: (1) Hình thành kiến thức về dạy học văn nghị luận; (2): Rèn luyện kĩ năng dạy học văn nghị luận; (3) Hình thành năng lực dạy học văn nghị luận. Việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên đáp ứng chuẩn đầu ra là góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,025
Kĩ năng nói là phần quan trọng ghi nhận khả năng làm chủ một ngôn ngữ của mỗi người. Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện sự quan tâm nhất định đến việc phát triển toàn diện các kĩ năng hoạt động lời nói cho người học, trong đó có kĩ năng nói. Ba yếu tố là động cơ học tập, thái độ học tập và chiến lược học có ảnh hưởng đến việc học tập cũng như việc rèn luyện kĩ năng nói của học sinh ở trường phổ thông. Từ việc nghiên cứu về bản chất và các thành tố của kĩ năng nói, bài viết đề xuất một quy trình rèn luyện kĩ năng nói trong dạy học Ngữ văn nhằm phát triển năng lực nói cho học sinh trung học
Số CIT: 0 Số lượt xem: 784
Chất lượng giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực để phát triển toàn diện mọi mặt của mỗi nước, từ văn hóa, xã hội, kinh tế đến an ninh quốc phòng... Nâng cao chất lượng đào tạo chính là làm cho giá trị sản phẩm của đào tạo có giá trị phẩm chất cao hơn, có kĩ năng và kĩ xảo nghề nghiệp tốt nhất, tạo ra những con người năng động, độc lập, sáng tạo đáp ứng được đòi hỏi thực tế và những vận động không ngừng của xã hội. Bài viết trình bày các nguyên tắc đề xuất giải pháp và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học đáp ứng nhu cầu xã hội: Đổi mới chương trình đào tạo; Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; Đổi mới phương pháp giảng dạy; Tăng cường công tác quản lí và giáo dục sinh viên; Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, đánh giá sinh viên; Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 808
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng năng lực hiệu trưởng các trường trung học các tỉnh miền núi phía Bắc. Khảo sát trên 8 khía cạnh của năng lực nghề nghiệp gồm có: (1) Năng lực Quản lí và phát triển bản thân; (2) Năng lực Thiết lập, vận hành bộ máy và cơ chế hoạt động của nhà trường; (3) Năng lực Phát triển đội ngũ; (4) Năng lực Phát triển kế hoạch giáo dục của nhà trường; (5) Năng lực Đảm bảo chất lượng sản phẩm giáo dục của nhà trường; (6) Năng lực Quản lí nguồn tài chính, tài sản của nhà trường; (7) Năng lực Huy động nguồn tài chính, tài sản cho phát triển nhà trường; (8) Năng lực Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển nhà trường. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất để nâng cao năng lực nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 704
Quyền tự chủ đã được đưa vào giáo dục phổ thông Việt Nam từ hơn mười năm nay, cả trên phương diện pháp lí lẫn tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, dựa trên những tiêu chí đánh giá quốc tế, có thể thấy việc thực hiện tự chủ trong giáo dục Việt Nam mới ở chặng đường đầu tiên và còn nhiều bất cập. Hơn nữa, cách tiếp cận để đưa tự chủ vào giáo dục ở Việt Nam là một cách tiếp cận mang tính thị trường. Dựa trên phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT), bài viết đề xuất một cách tiếp cận hướng tới văn hóa chất lượng, cùng những việc cần làm để quyền tự chủ trong giáo dục phổ thông thực sự là một công cụ quản lí trong việc nâng cao kết quả đầu ra của giáo dục.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,084
Kết nối Toán học với thực tiễn được thực hiện chủ yếu nhờ việc triển khai các hoạt động mô hình hóa để toán học hóa các tình huống của hiện thực khách quan. Việc nghiên cứu triển khai các hoạt động toán học hóa ở trong nước và trên thế giới hiện nay chỉ mới thể hiện qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động, thực hiện các bước mô hình hóa. Bài viết đề cập đến các nghiên cứu sư phạm về kết nối Toán học với thực tiễn trên nhiều bình diện và đưa ra những ví dụ minh họa dành cho học sinh trải nghiệm gắn kết kiến thức toán với thực tiễn. Đây là cơ sở để tìm kiếm và xây dựng quy trình lựa chọn, sử dụng tình huống thực tiễn vào dạy học Toán ở trường phổ thông nhằm phát triển năng lực cá nhân của học sinh.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 803
Khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục đã được nghiên cứu phát triển ở nhiều nước từ thế kỉ trước và đã được ứng dụng vào hoạt động đánh giá và xếp loại học sinh. Ở Việt Nam, khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục mới được nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây nhưng chủ yếu tập trung vào việc phát triển các công cụ đo lường dưới dạng các bài thi trắc nghiệm mà chưa có các nghiên cứu ứng dụng vào lĩnh vực đánh giá, xếp loại học sinh. Từ góc độ các thành tựu của khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế về đánh giá và xếp loại học sinh, tác giả chỉ ra một số bất cập của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông hiện hành. Từ đó cho thấy sự cần thiết phải đổi mới quy chế này trong tiến trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 1,232
Xây dựng mô hình bài học tiếng Việt như một ngoại ngữ dành cho học sinh nước ngoài là một trong những yếu tố góp phần triển khai hiệu quả Chương trình dạy tiếng Việt cho học sinh Lào trong khuôn khổ Đề án Nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giáo dục, phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020. Bài viết giới thiệu chương trình Tiếng Việt cho học sinh Lào tại Lào, mô hình bài học tiếng Việt như một ngoại ngữ dành học sinh nước ngoài và phương pháp để phát huy tối đa hiệu quả của mô hình bài học này trong giảng dạy tiếng Việt cho học sinh như một ngoại ngữ theo quan điểm giao tiếp. Để thực hiện thành công và phát huy hiệu quả của mô hình này đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của mỗi giáo viên trong vận dụng sáng tạo các phương pháp giảng dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình giảng dạy.
Số CIT: 0 Số lượt xem: 904
Phương pháp tương đồng lượng tử ra đời trong nghiên cứu hóa - lí lượng tử đã được phát triển để ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có kinh tế, xã hội, giáo dục. Trong bài viết này, phương pháp tương đồng lượng tử được đề xuất áp dụng vào đánh giá giáo dục nhằm đưa ra một số nhận định khái quát về các kì thi và cách đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một trường trung học phổ thông thông qua phân tích các phổ điểm được xác định dựa trên phương pháp xác suất thống kê. So sánh hàm phân bố điểm thi với hàm phân bố chuẩn đánh giá là phổ của hàm chỉ số thông minh IQ, hoặc phổ của hàm chỉ số cảm xúc EQ, tác giả tính được chỉ số tương đồng lượng tử (chỉ số Carbo). So sánh chỉ số Carbo của hàm phân bố phổ điểm trung bình cả năm lớp 12 do trường đánh giá, phổ điểm trung bình của 4 bài thi trong kì thi trung học phổ thông quốc gia và phổ điểm tốt nghiệp của một trường trung học phổ thông cho thấy kết quả đánh giá tốt nghiệp phổ thông của trường trung học phổ thông này hoàn toàn chấp nhận được.